Thứ tư, 24/06/2026,


"BỀNH BỒNG HOẠ MI" thơ Trịnh Toại, lời bình của NT Phạm Tự VHNT Tuyên Quang (24/06/2026) 

Tác phẩm & Bình luận
"BỀNH BỒNG HOẠ MI" - NỐT NẶNG TRẦM SÂU GIỮA NHÂN GIAN DÂU BỂ



Phạm Tự

 

1. Tác Phẩm

BỀNH BỒNG HOẠ MI

Họa mi trắng, nắng bềnh bồng
Để ai nhớ, để ai trông người về!
Dập dìu khúc nhạc đồng quê
Miền hoa trắng, giữa đê mê chợ giời

Yêu hoa, yêu cảnh, người ơi!
Thương thân, thương cả nụ cười người dưng…
Với nhau mặn muối cay gừng
Gửi hương vào gió, rưng rưng tay cầm

Trời còn khi nắng khi râm
Van anh đừng đến, trao lầm kẻ say...!

Trịnh Toại

2. Bình Luận

      Trong dòng chảy bảng lảng của thơ ca đất Cảng – nơi vốn nổi tiếng với những thanh âm bộc trực, can trường của sóng và gió biển – “Bềnh bồng họa mi” của nhà thơ Trịnh Toại hiện lên như một nốt lặng sa số, dịu dàng mà đầy trăn trở. Là một người lính đã từng đi qua bom đạn chiến trường miền Nam, nếm trải ranh giới mỏng manh giữa sinh tử, tác giả khi bước vào tuổi thất thập lại nhìn cuộc đời bằng đôi mắt bao dung, đầy chiêm nghiệm.

Bài thơ không đơn thuần là bức tranh phong cảnh về một loài hoa gọi mùa, mà là tiếng lòng thổn thức, là sự giao thoa giữa cõi mộng và cõi thực, giữa cái tôi lãng mạn nghệ sĩ và cái ta đầy trắc ẩn trước nhân gian. Qua thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng một cách uyển chuyển, tác giả đã dệt nên một khúc nhạc lòng vừa say đắm, vừa xót xa, để lại dư âm sâu lắng trong lòng độc giả.

Mở đầu bài thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào một không gian vừa thực vừa hư, nơi sắc trắng tinh khôi của hoa họa mi hòa vào cái chênh chao của tạo vật: “Họa mi trắng, nắng bềnh bồng / Để ai nhớ, để ai trông người về!”. Nhà thơ không tả hoa một cách tĩnh tại mà đặt nó trong trạng thái “bềnh bồng” cùng nắng. Hai chữ “bềnh bồng” là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, nó không chỉ gợi tả cái bồng bềnh của mây trời, của vạt hoa trải dài ngút ngàn, mà còn là cái chênh chao, vô định trong tâm tưởng con người. Sắc trắng của họa mi như một thứ chất xúc tác làm sống dậy nỗi hoài niệm, đánh thức cái “nhớ”, cái “trông” – những trạng thái tình cảm muôn đời của một tâm hồn biết yêu, biết đợi và biết nâng niu quá khứ. Không gian ấy nhanh chóng chuyển dịch, mở rộng từ thiên nhiên khoáng đạt trở về với nhịp sống đời thường qua hai câu tiếp theo: “Dập dìu khúc nhạc đồng quê /Miền hoa trắng, giữa đê mê chợ giời”. Cái hay của ngòi bút Trịnh Toại là sự kết hợp tài tình giữa các thi liệu đối lập. Ông dám đặt “miền hoa trắng ”tinh khiết, thanh cao ngay cạnh cái xô bồ, náo nhiệt, phàm trần của “chợ giời”. Nhưng qua lăng kính trữ tình của một người lính già, cái ồn ào ấy không hề dung tục mà lại hóa thành “khúc nhạc đồng quê” dập dìu, khiến thực tại hiện lên trong một trạng thái “đê mê”, biến nơi trần thế thành một miền không gian nghệ thuật đầy chất say.

        Càng dấn thân vào mê lộ của cảm xúc, bài thơ càng bộc lộ rõ chiều sâu của tình đời, tình người qua những thăng trầm dâu bể. Trái tim của người cựu chiến binh dường như nhạy cảm hơn bao giờ hết trước những số phận nhân gian: “Yêu hoa, yêu cảnh, người ơi! / Thương thân, thương cả nụ cười người dưng…”. Từ tình yêu thiên nhiên thuần khiết, hồn thơ chuyển dịch rất tự nhiên, ấm áp sang tình yêu con người. Chữ “thương” ở đây được đặt liên tiếp, nặng tình nặng nghĩa vô cùng. Tác giả không chỉ “thương thân” cho những nỗi niềm, góc khuất riêng tư, mà còn bao dung “thương cả nụ cười người dưng”. Đó là lòng trắc ẩn lớn lao của một người đã đi qua gần hết cuộc đời, thấu suốt mọi hỷ nộ ái ố để rồi nhận ra giá trị cốt lõi của tình nghĩa chính là sự đồng cảm: “Với nhau mặn muối cay gừng /Gửi hương vào gió, rưng rưng tay cầm”. Thành ngữ “mặn muối cay gừng” được lồng ghép khéo léo, gợi nhắc về lòng thủy chung, son sắt truyền thống. Gặp nhau, trao nhau chút hơi ấm giữa cuộc đời dâu bể để rồi “rưng rưng tay cầm” – cái nắm tay không lời nhưng chứa đựng biết bao nghẹn ngào, trân quý và cả sự nuối tiếc mơ hồ của những tâm hồn đồng điệu.

       Đỉnh cao cảm xúc và cũng là nhãn tự của toàn bài thơ được dồn nén vào hai câu kết, vang lên như một lời khước từ đầy kiêu hãnh nhưng cũng đớn đau, xót xa đến tận cùng: “Trời còn khi nắng khi râm /Van anh đừng đến, trao lầm kẻ say...!”. Thiên nhiên vốn có quy luật biến đổi “khi nắng khi râm”, cũng như lòng người và cuộc đời đầy rẫy những biến thiên, bất định. Giữa cái nền bấp bênh ấy, lời thốt lên “Van anh đừng đến” nghe như một sự cự tuyệt phũ phàng, nhưng thực chất lại là tiếng lòng chứa chan tình cảm và trách nhiệm. Đó là sự tỉnh táo đến tội nghiệp của một “kẻ say”. Say vì hoa, say vì tình, hay chính là cái say đầy nghệ sĩ trước cái bảng lảng của cuộc đời? Người ta chỉ dùng đến từ “van” khi trái tim đã quá tổn thương, hoặc đã quá hiểu thấu sự mong manh, dễ vỡ của hạnh phúc. Nhà thơ trân trọng tình cảm của người đến mức không muốn họ phải “trao lầm” vào một tâm hồn đang chênh chao, bấp bênh như chính mình. Lời khước từ ấy vừa mang nét kiêu hãnh của một cái tôi tự trọng, vừa mang nỗi bất lực, xót xa trước dòng đời ngược xuôi.

        Tóm lại, “Bềnh bồng họa mi” của nhà thơ Trịnh Toại là một chỉnh thể nghệ thuật toàn bích, nơi thể thơ lục bát truyền thống đã được hiện đại hóa bằng những nhịp điệu uyển chuyển và ngôn từ giàu sức gợi. Bài thơ không chỉ thành công trong việc khắc họa một không gian thẩm mỹ đẹp và buồn, mà còn chạm đến những vỉa tầng sâu kín nhất của nhân văn, của tình người hậu chiến. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tả cảnh ngụ tình và tư duy nghị luận giàu trải nghiệm, tác giả đã để lại một tiếng lòng tha thiết, một nốt lặng đầy ám ảnh. Bài thơ như một chén rượu nồng lúc cuối ngày, khiến người đọc khi thưởng thức xong vẫn thấy lòng mình “bềnh bồng” trong những dư vị ngọt ngào và cay đắng của tình đời.

 

Lời bình: Nhà thơ Phạm Tự (VHNT Tuyên Quang)

 

Giới thiệu: BTV Trịnh Toại

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
Các bài khác: