Bước chân vào ngõ tre làng
Lòng buồn nặng trĩu nghe nàng ru con
Bước lên thềm đá rêu mòn
Lòng buồn nặng trĩu nghe buồn võng đưa
(Ca dao)

Quê mẹ tôi ở bên dòng sông Đáy. Con sông xanh biếc, hiền hoà, bãi sông trù phú, mùa nào cũng mướt xanh. Trước kia, loại cây được trồng nhiều nhất là đay, để cung cấp nguyên liệu cho làng có nghề làm võng. Nghề làm võng đay đã có thời mang lại no ấm cho dân làng. Con gái quê tôi đến tuổi lấy chồng, thường được cha mẹ cho tết võng bán lấy tiền làm vốn riêng. Cô nào chăm chỉ, khéo tay thì hay có võng bán, được tiền, lại được tiếng đảm đang, càng đắt chồng.
Cây đay thân tròn màu xanh, nhỉnh hơn ngón tay cái, mọc thẳng đều tăm tắp ở bãi sông. Khi cây cao quá đầu người, chặt về, ngâm xuống ao khoảng bảy ngày thì vớt lên, cạo lớp vỏ mỏng màu xanh bên ngoài, dùng tay tước ra nhiều lớp. Lớp ngoài cùng cứng, còn sần lên chút mấu, chỉ để bện thừng hay bán cân làm dây buộc. Các lớp trong màu vàng nhạt, nõn nà, dài cả sải tay đem phơi khô, gấp thành từng sấp vài cân, chợ phiên nào cũng bày bán cả dãy. Lõi cây đay còn lại dùng để làm củi đun, cháy rất đượm.
Mỗi lần nhớ về quê là tôi lại nhớ tới những câu thơ của Nguyễn Bính:
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Để tôi mơ mãi mơ nhiều:
Tước đay se võng nhuộm điều ta đi
Để sợi võng mềm nuột, phải đập đay rất kỹ. Chiều chiều, làng trên xóm dưới vang lên tiếng đập đay thì thụp. Người đập đay thường ngồi bệt, để đòn kê là một miếng gỗ to, dày như bắp vế giữa hai chân, một tay xoay trở bó đay nõn buộc lơi, tay kia cầm cái vồ bằng gỗ có chuôi, đập nhát nào ra nhát ấy. Có người lại hai tay hai vồ, tay thuận tiếng đập chắc, tay trái điểm nhẹ hơn; tiếng đục, tiếng thanh gối nhau nhịp nhàng, rất vui tai. Trẻ con lại thích đập đay chung, hai đứa hai vồ ngồi dãi thẻ hai bên đòn kê, bó đay đập mịn tơi vẫn chưa hết chuyện. Nhà bác tôi có tảng đá xanh chôn trước cổng, người trong xóm hay mang đay ra đập nhờ, chỉ nghe tiếng vồ là bác biết nhà nào, người nào đang đập đay. Qua biết bao năm tháng, tảng đá xanh đã nhẵn lỳ, những đòn kê bằng gỗ bị mòn võng xuống, còn các cái vồ cũng ngấm mồ hôi, lên nước bóng loáng.
Người quê tôi chăm lắm, đi làm thì thôi, về đến nhà là lập tức ngồi vào se võng, vào nhà ai cũng thấy vài cái võng làm dở móc trên cột. Thường mỗi người làm một võng để các sợi võng, mắt võng được đều tay, võng mới đẹp. Chỉ khi làm quại võng, cổ võng mới nhờ những người khỏe tay làm giúp.

Hồi đó chưa có điện. Xong bữa cơm chiều ở ngoài sân, dọn dẹp, thắp cái đèn hoa kỳ lên là cả nhà ngồi vào làm võng. Các cô gái hay hẹn nhau mang võng của mình đến một nhà, móc chung vào cột, vừa làm, vừa chuyện râm ran tới khuya. Những ngón tay mềm như múa, những cái bóng rung rinh trên vách trong ánh sáng mờ mờ của đèn dầu. Con gái quê tôi ngón tay chẳng nuột nà vì phải đập đay, se đay. Dùng ngón trỏ và ngón cái se riêng hai nhúm đay theo chiều kim đồng hồ, rồi bện hai nhúm đó với nhau ngược chiều kim đồng hồ, mới được một li của sợi võng. Mấy sợi võng dài độ ngón tay lại tết thành một hoa thị. Cứ thế, một chiếc võng đay, với hàng trăm ô mắt cáo đều tăm tắp, sợi võng mịn màng, không nhìn thấy mối nối nào đã được kết nên bởi những bàn tay khéo léo, nhẫn nại, chịu thương chịu khó của người quê tôi.
Phiên chợ, người quanh vùng đổ về. Bên cạnh các sản phẩm cây trái, rau quả, lợn gà là võng và đay. Người làng mang những chiếc võng của mình làm ra, bẽn lẽn đón nhận khen chê của thiên hạ, nhận chút tiền công, còn vốn lại mua đay, quay vòng chờ phiên chợ khác.
Bây giờ, chợ họp mỗi ngày, nhưng tìm một chiếc võng đay cũng khó, chỉ thấy võng dù, võng nilon, võng xếp. Quê mẹ tôi giờ đã thành Hà Nội, rất nhiều dự án lớn đang được triển khai trên những cánh bãi trồng đay ngày xưa. Tảng đá xanh để đập đay giờ cũng chìm vào lòng đất. Cả làng hầu như chẳng ai dùng võng nữa. Ngôi nhà cổ của ông bà ngoại tôi, với lũy tre xanh mát sau nhà, với những cột gỗ lim đen bóng giờ nhường chỗ cho ngôi nhà lớn ba tầng hiện đại, đẹp mà sao vẫn thiêu thiếu một cái gì… Nhớ ngày xưa, ông tôi hay nằm võng đọc Kiều sang sảng, cuốn sách in bằng chữ Nôm trên giấy bản. Nhớ những trưa hè, mấy chị em ngủ chất chồng trên võng, tiếng võng đưa kẽo cà kẽo kẹt, tiếng bà ru như thật, như mơ:
Cái cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về…
Chử Thu Hằng
|
võng đay vẫn còn nhiều ở Nam Định .Thường Tín quê tôi , xưa chả nhà nào là không có .Trong ký ức tôi vẫn nhớ lắm
Tiếng võng - KỶ NIỆM Kẽo cà kẽo kẹt võng đưa Du hồn thơ ấu Những trưa nắng hè Quanh vườn ran vọng tiếng ve Câu Kiều sâu thẳm Bên hè lời du Qua hè đến hạ sang thu Tháng năm trôi mãi Cho dù ở đâu Tiếng chi kẽo kẹt trong đầu Ấm lòng Tiếng võng với câu du Kiều Bantho89 |