Cái đẹp của ca dao giống như cái đẹp của cô thôn nữ, ẩn tàng sức sống. Hình ảnh trong ca dao rất sắc nét, mạnh mẽ, có khí lực, trong trẻo như không khí đồng quê buổi sáng. Một trong những hình ảnh mà ca dao thường đề cập đến là hình tượng của người phụ nữ. Muốn biết phụ nữ thời xưa như thế nào, thử đi tìm trong ca dao.
Người phụ nữ trong ca dao rất đẹp, về ngoại hình cũng như về tâm hồn. Phụ nữ được xưng tụng là phái đẹp, mà đẹp thì thường là đề tài của văn chương.
Ngoại hình đẹp, hấp dẫn
Ca dao phác họa những người đẹp đồng quê có dáng đứng không phải liễu rũ, mềm mại, yếu đuối như tiểu thư khuê các mà là:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Thân trúc thẳng, suông, mảnh mai, láng, dùng để so sánh với dáng thon cao, mạnh khỏe của cô gái nông thôn, thật thích hợp. Có dáng thon thả của thân trúc cộng thêm mái tóc dài thì tuyệt hảo.
Tóc em dài em cài hoa lý
Miệng em cười có ý anh thương.
Chân mày vòng nguyệt códuyên
Tóc mây dợn sóng tợ tiên non Bồng.
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, đôi mắt đẹp “lúng liếng”(liếc qua liếc lại) đó ở dưới đôi lông mày lá liễu thanh tú thì các chàng trai không uống rượu cũng “say lừ đừ”.
Hoa thơm hoa ở trên cây
Đôi mắt em lúng liếng, dạ anh say lừ đừ.
Những người con mắt lá răm
Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền.
Nhan sắc, nét đẹp trên người cô gái được các chàng trai cụ thể hóa qua hình ảnh các vật dụng hằng ngày như dao, hoặc bông hoa:
Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Hay:
Hai má có hai đồng tiền
Càng nom càng đẹp càng nhìn càng ưa
Ba thương má lún đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.
Vừa có khuôn mặt đẹp, vừa có thân mình “ngực nở eo thon”, đẹp cả phương diện thẩm mỹ lẫn phương diện tướng số.
Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, lại khéo nuôi con.
Cách ăn mặc, trang phục của cô gái nông thôn cũng được miêu tả tỉ mỉ, gợi hình và rất hấp dẫn:
Đàn ông đóng khố đuôi lương
Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.
Còn gì thích mắt cho bằng nhìn cô con gái tuổi xuân hơ hớ mặc yếm đào để lộ hông, eo và lưng trông thật nõn nà bắt mắt, cho nên nhiều anh chàng chịu hết nỗi mới:
Vì cam cho quít đèo bồng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Vì vậy, chàng xin kết hôn cùng người đẹp:
Vào vườn trẩy quả cau non,
Thấy em đẹp dòm muốn kết nhân duyên.
Tâm hồn đẹp, đáng kính
Từ khi cô gái lấy chồng, tôi không còn thấy hình ảnh xinh đẹp của cô trước khi kết hôn mà chỉ thấy đức tính của người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo đan kết lại thành hình ảnh của cô. Hình ảnh này bị bao phủ dày đặc bởi trách nhiệm và bổn phận với chồng, con, gia đình chồng. Còn quyền lợi của cô thì …chẳng thấy đâu cả. Quyền lợi chẳng có, bổn phận và đức tính thì nhiều vô kể, lấp lánh như những vì sao…
• Tòng phu. Một khi đã chọn được ý trung nhân rồi, phận gái chữ tòng. Bổn phận của người phụ nữ là “xuất giá tòng phu”, sau khi dâng ly rượu tiễn biệt, từ giã cha mẹ đi theo chồng:
Rượu lưu ly chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh.
Chữ Tòng được tôn trọng triệt để, không chỉ người phụ nữ bình dân, ngay cả gia cấp quý tộc, con gái vua lấy chồng cũng phải giữ phận chữ tòng:
Con vua lấy thằng bán than
Nó dắt lên ngàn cũng phải đi theo.
Hay:
Ghe bầu trở lái về đông
Làm thân con gái thờ chồng nuôi con.
Nho giáo dạy người phụ nữ có bổn phận phải nghe lời chồng:
Con quốc kêu khắc khoải mùa hè
Làm thân con gái phải nghe lời chồng
Sách có chữ rằng: phu xướng phụ tòng
……………..
• Chấp nhận và chung thủy. Người phụ nữ sẵn sàng chấp nhận những thiếu xót của người đàn ông được cô gọi là chồng. Không vì người đó xấu mà buồn. Không vì người đó nghèo mà xấu hổ. Cho dù có xấu, có nghèo hơn những người khác nhưng người đàn ông đó là của riêng cô. Chồng là người cô nương tựa suốt đời. Không so sánh chồng mình với chồng người khác. Thật đáng khen. Thời nay, số phụ nữ bỏ chồng vì hoàn cảnh kinh tế eo hẹp không phải là ít. Hiếm có người thốt lên câu:
Xấu xa cũng thể chồng ta,
Dù cho tốt đẹp cũng ra chồng người.
Hay:
Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
• Đồng cam cộng khổ. Hình ảnh cô gái xinh đẹp độc thân biến thành hình ảnh người vợ hiền, theo lang quân đi tới góc biển, chân trời, dù cực khổ cũng không sờn lòng.
Đi đâu cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam.
Chữ “thiếp” thật khiêm tốn, có một chút cổ điển, một chút e ấp, nũng nịu. Chữ “cùng”, “cam” và “chịu”, nhỏ nhẹ, ngọt lịm…nói lên sự tình nguyện chia sẻ nỗi khó khăn gian khổ với người chồng trong cuộc đời. Hết lòng, hết dạ. Nghe rất thương, rất mát ruột!
• Nhường nhịn. “ Một sự nhịn, chín sự lành”. Đức tính nhường nhịn chồng cho êm nhà êm cửa của phụ nữ thời xưa thật đáng quí. Thời nay ít có phụ nữ nào được như vậy, dù biết rằng nhịn là điều nên làm nhưng chưa chắc đã thực hiện được. Đàn ông thường nóng tính. Đàn bà cũng… tính nóng. Khi tranh cãi, chồng giận thì vợ bực mình cãi lại nhưng phụ nữ thời xưa thì khác, đã không nổi cáu mà lại cười mơn. Xoa dịu cơn giận của lang quân bằng cách “dụ khị” cưới vợ bé cho chàng! Anh chồng nghe xong nhất định sẽ phì cười và …hết giận. Gia đình sẽ đầm ấm như cũ.
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì?
Thưa anh, anh giận em chi,
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho.
Thái độ tự kềm chế, trầm tĩnh của người vợ để giữ hòa khí trong gia đình rất đáng cho phụ nữ các thời đại học tập:
Chồng giận thì vợ bớt lời,
Cơm sôi, nhỏ lửa một đời không khê.
Hình ảnh “cơm sôi” đối với hình ảnh “chồng giận”. Thấy ngay cơn giận của chồng đang bùng lên giống nồi cơm đang sôi sùng sục trên bếp. Và “nhỏ lửa” đối với “bớt lời” rất chỉnh. Khi lửa bị giảm đi, lập tức cơm bớt sôi (giống như cơn giận của anh chồng đang hạ xuống ) và từ từ chín để cho ra nồi cơm ngon (vợ chồng hòa thuận trở lại), thật tuyệt!
Thật hay. Hình ảnh thí dụ thật đơn giản, ngay trong đời sống. Cơm “khê” có nghĩa là cơm khét ăn không được, coi như nấu hư nồi cơm. Từ “khê” chỉ sự tan rã, mất hòa khí ở trong gia đình. Nếu không “bớt lửa” thì nồi cơm sẽ khét mất còn gì.
• Cột trụ kinh tế của gia đình. Người phụ nữ là lao động chính trong nhà, một “bread-winner” chủ lực. Làm việc quần quật. Đảm đang. Trồng trọt. Canh cửi. Buôn tảo, bán tần. Nuôi chồng đi học để mai sau tên đề bảng vàng, rỡ ràng tổ tiên. Anh chồng chỉ có mỗi một việc ăn xong rồi học và chờ khoa thi. Người vợ đặt hết hy vọng vào người chồng. Mong chồng thi đậu thì công lao của chị hy vọng được đền bù. Nếu gặp anh chàng nào lận đận mãi vì thi cử thì thật đáng buồn, chị phải chịu cảnh lam lũ xuống đời.
Em thời canh cửi trong nhà
Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bõ công đèn sách lưu phương đời đời.
Hay:
Em là con gái Phụng Tiên
Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng
Nữa mai chồng chiếm bảng rồng,
Bỏ công tẩm tưới vun trồng cho rau.
![]()
KG BBT : Tôi đọc thấy một bài viết sưu tầm khá công phu, một tư duy bình phẩm khá sâu sắc. Một tư liệu quý giá giúp cho các bạn làm thơ đương thời học tập nhiều để cảm nhận thơ và làm thơ. Giá có địa chỉ TG tôi chỉ xin trao đổi riêng về một vài câu ca dao TG trích dẫn, theo tôi có lẽ hơi khác. thí dụ :
Đi đâu cho thiếp đi cùng, Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. ( chàng đi cho thiếp đi cùng ? ) Đàn ông đóng khố đuôi lương Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh. ( ... khố đuôi lươn ? ) Ba thương má lún đồng tiền, Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua. ( Ba thương má lúm đồng tiền ) Chân mày vòng nguyệt có duyên Tóc mây dợn sóng tợ tiên non Bồng. ( tựa tiên non Bồng ) Khổ thế đấy, thơ mà nhầm một từ, một dấu có khi khác nghĩa hẳn đi. Vậy có chỉnh sửa được chăng ? cảm ơn.! ĐTT |