LẬT TÌM…

Phan Văn Nhớ
Lật nụ cười thấy than ôi
Lật niềm hạnh phúc gặp người bơ vơ
Lật thời gian chạm hững hờ
Lật ân nghĩa chợt thẫn thờ bạc đen...
Càng lật càng nặng ưu phiền
Đứng giữa hai mặt triền miên gánh gồng
Mặt trời trải thảm trên đồng
Xin cho chút nắng gửi lòng, chút thôi!
P.V.N
____________
Tác giả Phan Văn Nhớ
Cục Chính trị Quân đoàn 4
Điện thoại: 0165.454.4532
Email: nguoilinh_1968@ymail.com
|
Xin chân thành cảm ơn bác Nguyễn Đình Trọng và cô giáo trẻ Đặng Thy Đông, cùng các tác giả: Phạm Văn Tự, Đặng Thức, Vũ Đình Mai và Nhà thơ Thanh Nhị (Hải Dương, qua điện thoại)... đã tham gia bình luận, trao đổi thẳng thắn cho bài thơ LẬT TÌM của tôi, với những vấn đề có liên quan! Trong những ngày vừa qua (và hiện giờ) sức khỏe tôi không được tốt lắm. Vì vậy, tôi xin phép sẽ được trao đổi qua email với các tác giả sau. Riêng với Thy Đông, chú xin nói trước điều này: Chú rất xúc động và cảm ơn cháu thật nhiều! Chúc quý vị mạnh khỏe, vui vẻ và hạnh phúc! Trước hết Thy Đông xin cảm ơn ý kiến trao đổi của bác Vũ Đình Mai. Bác rất am hiểu triết học .Đầu bác cũng như bác Nguyễn Đình Trọng giống như '' bộ Bách Khoa toàn thư '' vậy. Nhưng cháu vẫn thích văn chương là văn chương, bởi nó là sự trộn lẫn hoà quyện của tất cả cấc lĩnh vực . Và quan trọng hơn là ở đó ta được gặp lại chính mình. Lật tìm đồng điệu trong tôi Lật tìm trong cái lật tìm Văn thơ muôn màu muôn sắc.Nếu như đem ra cân đong đo đếm mổ sẻ cắt nghĩa sẽ chẳng ban giờ tìm được đáp án cuối cùng. Tâm hồn mỗi chúng ta cũng là một tiểu vũ trụ nhỏ. Người Việt Nam vốn giỏi tư duy siêu hình đúng như Vĩnh Xuân đã bình thơ bằng chuyện vui ý nhị sâu xa mà tôi rất thích cái vế ''Ô kìa !Có ngôi sao''.Triết lí suy luận chỉ là triết lí, T Đ vẫn đồng ý '' trăm cái lí chẳng bằng một tí cái tình''mà dân gian ta vẫn hay nói. T Đ đã bắt gặp cái tình trong thơ Chú Lính . Nó nâng cánh ước mơ để T Đ càng thêm yêu người, yêu đời, yêu cuộc sống này hơn. Trước hết Mai xin thua và cám ơn bác Nguyễn Đình Trọng cùng bác Đặng Thức. Mai thích mấy câu ca dao ấy lắm. Trong một bài, Mai đã viết chúng thành: Tóc thề nay chẳng còn xanh Táo chua cũng bỏ sân đình mà đi Đồi toàn lộc sắn, lộc si Tìm nhau rồi biết lấy gì nuôi nhau Trời buông sương muối giàn trầu Lại làm cả gió cho cau mất mùa Xót lòng cây cải muối dưa Nào ai đã thấy gió đưa về trời ?... Mai nhận thấy sự giao lưu của chúng ta có ích nhiều lắm. Nhưng chúng ta bàn sang các lĩnh vực khác thì có sợ ra ngoài tiêu chí của Ban Biên tập và Ban Tổ chức không? Mai nghĩ rằng cái sự triết lý hàng ngày của chúng ta không phải lúc nào cũng mang tính triết học. Câu ca dao triết lý : Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn Chính chuyên cũng chẳng sơn son mà thờ... không hề mang tính triết học. Nhưng những câu thành ngữ như Quá mù ra mưa, hay Ở hiền gặp lành thì lại mang tính triết học. Một câu ở trong định luật Tích luỹ về lượng thì biến đổi về chât. Một câu nằm trong luật nhân - quả. Cũng được xin trao đổi với bạn Đặng Thy Đông thế này: Nhà Phật chưa bao giờ coi đời người là một ván bài. Thứ hai, bạn bảo "Ta đang sống trong thế giới nhị nguyên luận, có trắng phải có đen..." bạn đã viết thừa chữ "luận". Từ xưa đến nay, triết học có nhiều phái lắm, trong đó có phái Nhất nguyên và phái Nhị nguyên. Nhất nguyên lại chia ra phái Duy tâm và phái Duy vật. Phái Nhất nguyên Duy vật cho rằng: Nguồn gốc và tính thống nhất của thế giới là vật chất. Phái Nhất nguyên Duy tâm cho rằng thế giới là do Ý niệm tuyệt đối sáng tạo ra. Phái Nhị nguyên cho rằng: Bản chất và sự thống nhất của thế giới gồm cả vật chất và tinh thần. Mai xin dừng ở đây thôi. Kính chào các bác. Bác Vũ Đình Mai có thích câu ca dao này không? Thấy anh em cũng muốn theo Em sợ anh nghèo anh bán em đi Lấy anh em biết ăn gì Lộc sắn thì chát lộc si thì già Lấy anh không cửa không nhà Không cha không mẹ biết là cậy ai? Lật tìm. Cũng giống như ván bài đỏ đen của con người trong thế giới Ta Bà này vậy (Nói như cách nói của Đạo Phật). Ta đang sống trong thế giới nhị nguyên luận. Đã có trắng phải có đen, đã có yêu phải có ghét , có vui phải có buồn, có được phải có mất... không cái gì là đứng yên cả. "Nụ cười'', ''hạnh phúc'', ''thời gian'', ''ân nghĩa'' là vế mà ai cũng mong nhân lên thật nhiều và ''than ôi'', ''bơ vơ'', ''hững hờ'', ''bạc đen'' là vế còn lại của mặt đối lập đó . Người lính đã hiểu ra và nhận chân được giá trị đích thực của cuộc sống . Cho nên nếu ''mặt trời trải thảm trên đồng '' đem nguồn sống đến cho thiên nhiên vạn vật thì Người lính cố gắng '' đứng giữa hai mặt mâu thuẫn đó để " gánh gồng" giảm bớt đau thương cho đời. Muốn hoá thân thành ''một chút nắng hồng " trong vô vàn những tia nắng đó làm cho vườn hoa cuộc đời này tốt hơn , đẹp hơn, nhân niềm vui và nụ cười lên mãi . Bài thơ gửi gắm thông điệp cuộc sống này sẽ đẹp lên rực rỡ nếu như ai cũng hiểu được nghĩa vụ của chính mình. Và nghĩa vụ đó Người lính đang từng ngày, từng giờ sống và cống hiến hạnh phúc cho đời. Bài thơ đọc thoáng qua tưởng chừng như vô lí nhưng lại hết sức có lí. Cái lí đó nằm ở nhân sinh quan của mỗi người. Điệp từ ''lật tìm'' kết hợp với phép lặp cấu trúc diễn tả sâu sắc sự băn khoăn trăn trở trong tâm hồn người lính.Chỉ có những tâm hồn đồng điệu mới dễ dàng nhận ra. Trên đây là ý kiến của Đ T Đ về bài thơ '' Lật tìm..." của chú lính. Chúc chú luôn giữ vững lập trường , giữ vững tâm hồn Việt khơi nguồn sống cho đời. Thơ chú có sức lay động rất lớn đối với lớp hậu sinh như cháu đang "băn khoăn đi tìm lẽ yêu đời". Cám ơn bác Nguyễn Đình Trọng. Đầu bác cứ như bộ Bách khoa toàn thư về Lục bát vậy. Ru cháu suốt ngày bằng 'Lỡ bước sang ngang" mà em không nhớ câu "Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran..." thì thật là sơ ý quá. Nhưng em vẫn không thích những câu lục bát có từ thứ hai là vần trắc, dù chúng biến thể thế nào. Có lẽ già rồi nên bảo thủ một chút, mong các bác thông cảm. Lật vui thì lại thấy buồn Lật quên thấy nhớ lật con thấy thầy Lật béo thì thấy ngay gầy Lật mưa thấy nắng lật ngày thấy đêm Lật đi, lật lại, lật thêm Vui cùng thi hữu mà quên tháng ngày! Bạn viết: "Từ ca dao, cụ Nguyễn Du đến ông Nguyễn Bính... hình như em chưa gặp từ thứ 2 nào trong các câu Lục Bát có vần trắc cả, nhất là từ thứ 2 của câu tám. Nếu có, các bác chỉ giùm em!" Bạn Vũ Đình Mai thân mến! Do biến thể vần bằng: Là thay đổi cách gieo vần ở câu Bát: Chữ cuối của câu Lục cùng vần với chữ thứ tư của câu Bát chứ không phải chữ thứ sáu như luật thông thường. Theo lối biến thể này, luật bằng trắc ờ chữ thứ hai và thứ sáu trong câu Bát cũng thay đổi, tức là hai chữ này phải thuộc vần trắc chứ không phải vần bằng như trong luật gieo vần. Thí dụ trong bài ca dao "tát nước": ... Áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng Khâu rồi anh sẽ trả công Ít bữa lấy chồng anh trả công cho... Vị trí tiếng thứ 2 ở câu Bát, nhiều dòng thơ còn sử dụng vần trắc. Theo thống kê về thể Lục Bát trong ca dao, đã thống kê được 29,6 phần trăm ca dao, Lục Bát sử dụng vần trắc ở tiếng thứ 2 mà không cần một điều kiện nào cả, như: * Chỉ nghe môi thật là môi Mắt thật là mắt có lời bên trong (Bùi Chí Vinh) Câu thơ tuột mất nơi đâu Biết có rơi xuống sông sâu mà tìm (Đỗ Bạch Mai) Nửa tôi là nửa phù sinh Tìm nửa em hiện nguyên hình lứa đôi (Nguyễn Liên Châu) Về đâu mà em chia tay Ngày trống vắng đã lắp đầy lên anh (Phạm Ngọc Cảnh) Mẹ trông theo mẹ thở dài Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran (Nguyễn Bính) Áo nâu phơi vẹo bờ ao Cái phận đã bạc còn cào phải gai Quả cà cùng mấy củ khoai Con thút thít mẹ nghẹn hai ba lần (Nguyễn Ngọc Oánh) Mồng năm, mười bốn, hăm ba Lấy vợ thì tránh, làm nhà thì kiêng (Ca dao) Dại khôn, hay dở... Thôi thì Hắn vẫn là hắn - Có gì khác đâu! Dẫu chưa bạc tóc dài râu Hắn đã tưởng tượng... Kiếp sau đời mình * Tôi thì lấy dại làm khôn Lấy đắng làm ngọt, lấy buồn làm vui * Em thì lấy lạ làm quen Lấy xấu làm đẹp, lấy hèn làm sang * Dẫu cho anh đến trăm miền Thì nỗi nhớ vẫn theo liền bên anh * Đặt tay lên ngực mà xem Nỗi nhớ theo nhịp quả tim lại về * Cả tuần vằng vặc trăng soi Anh vẫn ngỡ được đứng ngồi bên em Những ngôi sao sáng nhất đêm Anh bảo đấy là mắt em đang nhìn Anh và đồng đội đều tin Rằng nỗi nhớ chẳng lặng im bao giờ! * Đừng tắt nhé, ngọn đèn ơi Dù đất còn gió, dù trời còn mưa * Trẻ con ở xóm bụi đời Như cỏ dại dưới nắng trời hoang vu... * Nếu thương xin hãy làm ngơ Đừng hỏi địa chỉ bây giờ... nhà tôi Sợ thơ buồn chẳng dám mời Lo lũ mất ngủ cuốn trôi cầu Kiều (Đặng Vương Hưng - Học quên để nhớ) ... Vân vân... Trao đổi cùng Bạn. Lật tìm lại nửa cuộc đời Nỗi buồn có ít, niềm vui rất nhiều... Ngẩn ngơ tìm nửa cuối chiều Hoàng hôn đần tắt...Tình yêu vẫn còn... Cả đời mơ cái cỏn con Cái mất thì được, cái còn thì chưa ! Xin chân thành cảm ơn các tác giả đã đọc và tham gia ý kiến cho bài thơ LẬT TÌM của tôi. Những ý kiến của quý vị - khen, chê, đồng thuận, không đồng thuận - đều rất quý báu, là lời động viên rất lớn cho tôi trên bước đường tập tễnh đến với thi ca của mình. Tôi xin trân trọng tiếp thu! Thấy các bác có khen bài thơ hay, mà em chẳng hiểu gì cả. Lật nụ cười thấy than ôi thì em chịu. Nếu thấy nước mắt, sự thở dài hay cái cái mếu máo... thì em còn hiểu được đôi chút. Cũng vậy, lật thời gian chạm hững hờ thì em cũng mù tịt . Từ ca dao, cụ Nguyễn Du cho đến ông Nguyễn Bính...hình như em chưa gặp từ thứ hai nào trong các câu lục bát có vần trắc cả, nhất là từ thứ hai của câu tám. Nếu có, các bác chỉ dùm em chút. Bác Kiều ơi, sự vật và hiện tượng có được là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Trong bài này em không thấy điều thống nhất ấy. Bởi những điều tác giả nêu, chúng không nằm trong một sự vật. Mấy dòng góp vui thôi, nó chưa được chín chắn, xin các bác đại xá. Bình thơ bằng chuyện vui: Hai người đi trên đường. cùng dừng lại và nhìn xuống. Người thứ nhất kêu to: Có vũng nước. Người thứ hai reo lên: Ô kìa! Có Ngôi sao. LẬT THẤY Lật đau đớn̉, thấy tiếng cười Lật bơ vơ, thấy lòng người nghĩa nhân Lật hững hờ, thấy ân cần Lật nơi ruồng bỏ, thấy thần tình yêu Đen không ít, trắng cũng nhiều Vượt qua sương sớm, thấy chiều trời xanh Khơi giòng hồi ưc… eo ôi ... Khơi tình một thuở , bồi hồi vu vơ Khơi nguồn cảm hứng ... ơ hờ ... Khơi chi cái nỗi trông chờ đỏ đen ! Cớ chi khơi lại muộn phiền Để rồi đưa hết sức lên mà gồng Chi bằng khơi dậy chữ đồng Vũ Môn cá vượt hóa rồng đi thôi Lật (môi) cười thấy than ôi Lật thời gian chạm hững hờ (Lật vui, buồn mãi kề bên (Lật thêm chỉ nặng ưu phiền Mặt trời trải thảm trên đồng Góp vào với bạn vài ý, thuận vần lục bát. Mong không làm lạc ý chính trong thơ. Chúc bạn vui. Lan Anh Bài thơ "Lật tìm" của Người lính mang nặng tư duy triết học quá, lật tìm cái này thì thấy cái kia đối lập: Cười (vui) thì thấy than ôi (buồn), hạnh phúc thì thấy người bơ vơ, ân nghĩa thì bạc đen. Và các mặt đối lập ấy nhiều lắm "càng lật càng nặng ưu phiền" còn con người thì đứng giữa hai mặt đối lập để "triền miên gánh gồng" . Đúng thế đây là một sự thống nhất của 2 mặt đối lập trong một chỉnh thể (con người). Trong cuộc sống nếu chúng ta xem xét mọi sự việc hiện tượng trên cơ sở triết học như thế này thì sẽ rất tốt, thấy đựơc các mặt đối lập để kịp thời dung hòa xử lý, cũng là một cách nhận xét các sự vật đựơc toàn diện, tránh phiến diện một chiều. Bài thơ còn chuyển tải đựơc cái tâm cái đức của con người, mình vui, hạnh phúc ... thì lại chạnh lòng nghĩ đến lúc mình hoặc người khác buồn, khổ. Tuy nhiên bài thơ vẫn buồn, buồn là đúng thôi nếu con người cứ luẩn quẩn trong cái sự chủ quan khóc cười ấy. Nhưng hai câu cuối của bài thơ, tác giả đã tìm đựơc sự ấm lòng ở môi trường (Mặt trời, nắng) đó cũng là chân lý con người nên tìm thư giãn ở những cái tồn tại khách quan, môi trường tự nhiên thì cuộc sống sẽ có ý nghĩa hơn. Bài thơ thật hay, nhưng có một cặp từ "thời gian, hững hờ", TK nghĩ có nên thay là "Lật thời gian chạm sững sờ" (thời gian luôn đi tới thì đối lập với sững - thời gian dừng lại) hoặc "Lật đam mê chạm hững hờ" đựơc không tác giả? Như thế sẽ rõ nghĩa hơn theo dòng chảy của bài thơ. Riêng hình minh họa phù hợp quá, bóng con người trong miền tối lật tìm, thả những suy tư về miền sáng phía trứơc đầy rực rỡ. Vài dòng cùng người lính và bài thơ. Chúc anh vui và có nhiều thơ hay nhé. Thân ái. VTK |