
Hát quan họ ở Cổ Loa thành
Việt Nam là đất nước của lễ hội, theo thống kê chưa đầy đủ, trung bình mỗi ngày ở đất nước ta có đến hơn 20 lễ hội, như vậy đủ biết người Việt chúng ta lạc quan, vui vẻ, thân thiện, tin tưởng vào cuộc sống và ham muốn vui chơi, kết bạn đến nhường nào. Chẳng thế mà lời Quan họ cổ như còn dền dứ đâu đây trong không gian:
“Hôm nay tứ hải giao tình
Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà” (Quan họ cổ)
Cũng không phải ngẫu nhiên mà mới đây, ngày 4/7/2009, tổ chức Quỹ kinh tế mới NEF (News Economics Foundation), có trụ sở tại Anh, với các tiêu chí của mình, đã công bố bảng xếp hạng Chỉ số Hành tinh hạnh phúc – HPI (Happy Planet Index), Việt Nam là quốc gia duy nhất của Châu Á được xếp vào vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng 10 quốc gia có chỉ số Hành tinh hạnh phúc cao nhất.
Bàn về trang phục xưa trong lễ hội là cả một câu chuyện dài, xoắn xuyết trong trí nhớ, lúc nào từng dải khăn, vạt áo cũng như muốn tung bay khoe sắc. Người miền Bắc trong trang phục của mình thì yêu màu nâu - màu phù sa của sông Hồng vạm vỡ, người Nam Bộ tôn vinh màu đen – màu của bùn, người miền Trung xứ Huế lặn lội, mê mải với màu tím rất riêng chẳng nơi nào có được:
|
“Ban chiều tim tím nhớ mong nhau Đêm tối kìa em tím rất nhiều màu tím giấy tím nét thương đau” (Màu tím Huế, Nguyễn Bính) |
|
Trong thời gian vừa qua, một số lễ hội của nước ngoài đã và đang tiệm cận vào nếp suy nghĩ, lối sống văn hóa của người Việt Nam (Lễ hội Hoa anh đào, lễ hội Halloween,…). Điều đó, chỉ càng khẳng định thêm tâm hồn người Việt mình luôn có xu hướng rộng mở, tiếp thu những cái mới, cái hay, cái đẹp của văn hóa khắp nơi trên thế giới. Tại lễ hội Sakura tổ chức ở Hà Nội, các bạn trẻ rất thích thú và hào hứng, háo hức khi được ăn mặc lạ lùng giống như các nhân vật truyện tranh hay phim hoạt hình thường thấy của Nhật.
Những người say mê lễ hội thường xuyên xem vô tuyến, báo điện tử,… chắc chẳng thể nào quên được hình ảnh các thiếu nữ Nam Mỹ xuống đường với những bộ trang phục độc đáo tham gia diễu hành, biểu diễn nhiều vũ điệu bốc lửa trong các lễ hội carnival. Hay chúng ta từng có những giây phút chiêm ngưỡng đến ngẩn ngơ, xao động trước các đoàn thiếu nữ trong trang phục cổ làm lễ tại quảng trường Saint Mark ở Venice, Italy…
Một thời gian dài các kênh chương trình Đài truyền hình trung ương chiếu hàng loạt bộ phim cổ trang của Hàn Quốc. Phim cổ trang, cách hiểu đơn giản, là những bộ phim mà bối cảnh, cũng như các nhân vật mặc trang phục thời xưa. Đó có thể là phim lịch sử, phim dã sử hoặc đơn thuần là phim tái tạo không gian xưa cũ. Kinh đô điện ảnh thế giới Hollywood thường làm những phim cổ trang thời La Mã và rất thành công, với việc khai thác triệt để những trận chiến đấu giáp la cà của hai đội quân hùng mạnh hoặc những cuộc tỉ thí trong đấu trường đẫm máu. Cách đây trên dưới khoảng 10 năm Việt Nam cũng có những bộ phim cổ trang từng làm say mê bao người như Đêm hội Long Trì (1989), Lửa cháy thành Đại La (1989), Thăng Long đệ nhất kiếm (1990), Tây Sơn hiệp khách (1990).

Trang phục Việt cuối TK 19
Điều đó chứng tỏ người Việt Nam không hề thờ ơ với nếp cũ của cha ông, trong đó có nếp ăn, nếp mặc. Mỗi khi nhìn thấy trang phục xưa trong các lễ hội bây giờ, cõi lòng mỗi người chợt rưng rưng hoài nhớ. Dù rằng, trải qua hàng ngàn năm dâu bể, theo quy luật trang phục cũng dần được làm mới để thích nghi với thời đại (Không chỉ là vì vấn đề che chắn mà trang phục mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn) nhưng tôi luôn tin rằng trong tâm thức mỗi người Việt Nam chân chính, ai cũng mong muốn trong cuộc đời mình, được một lần khoác lên bộ trang phục trong những câu chuyện xưa: Sự dịu hiền của cô Tấm, Thằng Bờm hài hước với cái quạt mo huyền thoại, trang phục diêm dúa của Phú Ông, tinh quái của Thằng Cuội, rực rỡ của chị Hằng Nga, nét kỳ dị của anh chàng Sọ Dừa, cường tráng của Thạch Sanh, nét nham hiểm của mụ phù thủy, mộc mạc vợ chồng Mai An Tiêm với sự tích quả Dưa Hấu, của Trạng Quỳnh, Xiển Bột…
Và đặc biệt đối với những người xa quê có ai không đắm đuối, rạo rực khi nhìn thấy áo mớ ba mớ bảy, nét yêu kiều, nền nã, sương khói của chiếc áo dài. Nhà thơ Nguyên Sa có những dòng “Như vô tình khều được từ những đám mây” (Đạt Ma) miêu tả chiếc áo dài dân tộc:
“Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay” (Nguyên Sa)
Không biết đã có ai hiểu theo cách này chưa, nhưng tôi đồ rằng khi nhà thơ Vũ Quần Phương viết bài thơ Áo đỏ, thì đó dứt khoát phải là áo dài đỏ giữa phố đông. Chiếc áo dài đỏ đột ngột hiện ra, dân tộc như thế, tự hào như thế, huyền hoặc như thế, sexy như thế, mới có đầy đủ sức mạnh và nguồn năng lượng vô đối để thiêu đốt quả tim đàn ông Việt, làm cho họ trong sát na rơi vào cảnh giới hư ảo, mất trọng lượng, không kịp “phòng cháy - chữa cháy” (Có anh còn táo tợn ao ước thêm lần nữa). Chứ nếu là chiếc áo đỏ bình thường thấp thoáng trên phố, ngày nào ùn tắc giao thông chả có, chẳng lẽ liên tục bị “đứng thành tro”.
“Áo đỏ em đi giữa phố đông
Cây xanh như cũng ánh theo hồng
Em đi lửa cháy trong bao mắt
Anh đứng thành tro em biết không?” (Vũ Quần Phương)
Giới trẻ luôn thích thú với sự náo nức của lễ hội, nhộn nhịp chốn đông người, họ là những người mê thời trang nhất, táo bạo nhất. Những người trẻ, đặc biệt là thế hệ 8X, 9X luôn mong muốn có một sân chơi, một sự lựa chọn có định hướng nào đó để có thể trình diễn những bộ trang phục truyền thống mà ngày thường ít khi được mặc. Và trong các lễ hội đó là cơ hội duy nhất để thực hiện.
Tại sao trong các Lễ hội ngày nay (Đền Gióng, Đền Hùng hay Ngày Thơ Việt Nam, Hội Lim,…) lại chưa thể có một quầy cho thuê trang phục lễ hội xưa của người Việt? Việc này thuận tiện cho các nam thanh, nữ tú có nhu cầu khi dạo chơi trong lễ hội, ăn mặc theo lối xưa, là dấu ấn khó quên trong suốt cuộc đời. Chẳng lẽ, trang phục lễ hội phải được mặc đi từ nhà hoặc tay xách - nách mang tìm nơi, tìm chỗ để hóa thân thành “những người muôn năm cũ” (Vũ Đình Liên), điều này gây bất tiện và ít người có điều kiện để thực hiện (Về di chuyển là yếu tố chủ yếu, thứ đến là vị trí thay trang phục…).

Niềm vui trẻ thơ khi mặc trang phục lễ hội
Sách Văn hiến thông khảo viết: 'Ở Giao Chỉ xưa, người có địa vị trong xã hội đều mặc áo dài, lễ lạt thì mặc áo rộng mầu thẫm chùm lên gồm có bốn vạt gọi là tứ thân'. Cách đây hàng nghìn năm cha ông đã trọng lễ và ít khi sơ xuất trong trang phục đậm đà tính bản địa, để tế trời đất, cầu mưa thuận gió hòa.
Cho dù ngày nay, trước dòng chảy của thời gian, sự dịch chuyển, vận động không ngừng của xã hội, có thể làm thay đổi nhận thức về trang phục cổ và nghi thức sử dụng các loại trang phục đó. Nhưng ý thức giữ gìn nếp ăn, nếp mặc của cha ông thì vẫn hiện hữu hàng ngày trong mỗi chúng ta. Do đó, nên chăng các nhà tổ chức lễ hội cũng lưu ý ý kiến nhỏ này, để mỗi người khi đến với lễ hội, sống trong không khí lễ hội, được tận tình hướng dẫn cách thức mặc trang phục xưa. Điều đó chẳng phải là cùng nhau chung tay gây dựng nếp cổ, góp phần “làm nên Đất nước muôn đời” (Nguyễn Khoa Điềm) chính từ những việc tưởng chừng rất nhỏ như thế.
Lại đoán rằng tới đây, nhỡ gặp những Cô Nàng Yếm Thắm dịu dàng đeo nón Ba Tầm, xúng xính áo mớ ba, mớ bảy trong lễ hội thì sao nhỉ? Thậm chí thấp thoáng từng cặp đôi, từng bọn dung dăng, tha thướt trên sân hội, đọc thơ hội, ngắm người chơi hội, giòn tan phẩm bình “Cười như mùa thu tỏa nắng”?
Lại đoán rằng nhà thơ Hoàng Cầm khi viết những dòng lục bát phá cách đầy màu sắc mộng mị như thế này, chắc hồi trẻ mắt ông tinh lắm và chẳng năm nào Hội làng ông bỏ sót:
“Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”.
(Hoàng Cầm, Bên kia sông Đuống)
Viết ở Hang A Phủ, Hồng Ngài, Sơn La
Chạm núi ngày 19/08/2009
Đạt Ma
Điện thoại: 093 444 2727
Email: ghetlucbat@gmail.com