Cũng như những người làm thơ khác, sau một thời gian tìm tòi, khẳng định phong cách của mình, Nguyễn Hải Chi cũng quay sang triết lí về cuộc đời. Ở trong những triết lí đó, anh muốn trải nghiệm,
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.
Đã qua rồi cái thời của gã Chí Phèo say ngất ngưởng “chửi đời”, “chửi trời” khinh mạn đến bất cần; cũng không còn nữa một Thị Nở dở hơi với bát cháo hành định mệnh đã cứu rỗi linh hồn cho Chí.
Có hai thuyết về xuất xứ của thơ Lục Bát.
Thuyết thứ nhất đương nhiên cho rằng đây là thể thơ đặc thù VN.
Thuyết thứ hai, khởi đầu từ ông nghè Kiều Oánh Mậu, kiếm trong Kinh Dịch của Tàu được câu sau đây:
Ăn quả nhớ người trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng”... Từ thuở ấu thơ cắp sách đến trường chúng ta đã được thầy cô dạy dỗ những điều đó, những bài học đạo đức đầu tiên đã giúp chúng ta nên người như hôm nay.
Ngày nọ, đọc tiểu luận Khổ - câu thơ cứ đến rồi lại đi, thấy nhà văn Nguyễn Huy Thiệp quả quyết “y bát thơ lục bát” đã được trao truyền từ Nguyễn Du đến Tản Đà, rồi Tản Đà trao cho Nguyễn Bính, đến lượt mình,
Trong cuộc sống đôi khi con người phải trải qua những sự tranh chấp "chí tử", thậm chí "ngon miệng" thì thề thốt để làm tin. Trong tình yêu còn hơn thế vậy,