Thứ hai, 22/06/2026,


Nhã ca (Đậu Phi Hùng) (02/01/2011) 

NHÃ CA

 

 

Đậu Phi Hùng

 

 

Chỉ còn ta với đêm thôi

chỉ còn ta với chơi vơi đêm này

ngõ trăng về trắng sương bay

triền sông đom đóm thắp đầy ánh sao

 

chuông xa thẽ thọt song đào

lời kinh Bát Nhã nao nao phận người

ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười

thở ra thường trụ những lời an nhiên?

 

Bồ Đề kết hạt linh thiêng

chờ đông qua, tới tháng giêng nảy mầm

chắp tay bái tạ tình thâm

cho con vô lượng trong ngần ước mơ.

 

Đ.P.H

 

 

__________________

 

Tác giả: Đậu Phi Hùng

Số điện thoại: 0905.524310

Email: khaiminhtt@gmail.com

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Đậu Phi Hùng - khaiminhtt@gmail.com -  - Khánh Hòa  (Ngày 5/01/2011 08:05:36 AM)
Quý mến gửi các thi hữu! Đã có những bài họa thú vị.
Cảm ơn anh Tạ Chính đã ưu ái và quan tâm và băn khoăn về một số điểm trong bài thơ. Đáp lại tình cảm anh Tạ Chính tôi xin có một vài cảm niệm như sau:

CẢM NIỆM THIỀN TRONG “NHÃ CA”
(Đậu Phi Hùng)

Đọc tập chuyên luận “Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ” của Tiến sĩ Hồ Hải, ông đánh giá rất cao những bài thơ lục bát mang ý vị thiền của thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ lớn như Đại thi hào Nguyễn Du, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư lại coi trọng thiền và mượn thể thơ lục bát để chuyển tải triết lí cao minh của đạo Phật. Nhà văn Nguyễn Tuân từng lấy thơ lục bát ra để “sát hạch” tay nghề của người làm thơ: “cho tôi xin một ít lục bát, tôi sẽ thưa anh có phải nhà thơ thứ thiệt hay không”. Lục bát là thể thơ đặc trưng cho hồn cốt dân tộc, nhờ thể thơ này mà tiếng Việt và những giá trị văn hóa, trong đó có cả cõi giới sâu kín của đạo Phật, của văn hóa tâm linh được chuyển tải lưu giữ một cách bền vững cho đến ngày nay. Lục bát thiền và lục bát mang ý vị thiền không còn là một điều xa lạ với người đam mê và hiểu biết sâu về thơ ca. Nhưng thơ thiền hay và thâm sâu trong thời gian gần đây phải nói đến thơ của Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Dẫu biết ông là một tu sĩ am tường sâu sắc về ý niệm thiền và thực hành thiền cả trong đạo pháp lẫn thi ca. Tôi mê thơ lục bát thiền của Minh Đức Triều Tâm Ảnh từ thời còn là sinh viên văn khoa Huế. Đến nay tôi còn nhớ mãi những câu thơ trong tập “Lửa lạnh non thiêng” của thiền sư:

“Chữ đi
bảy dặm một hàng
lời như cát bụi lang thang cõi này”
(Lặng tờ)

Đạo Thiền cắc cớ mần chi?
rứa răng hoa lá
sân si cõi về
Rứa răng sự vụ Bồ- Đề
bên này lắm cội?
bên tê lắm cành?
(Hỏi)

Người xưa lên núi thong dong
đời chiêm bao trắng cõi hồng hạc bay
ta chừ! Lên núi ngủ ngày
dẫu mây lãng tử còn say sông hồ
mầm xuân cọng cỏ phất phơ
chào người chào đất chào hờ hững tôi
từ khi con én biếng lười
chẳng buồn lui tới góc đời xênh xang
chừ xuân! ba cõi mơ màng
hai tay với mãi thiêng đàng trong mây
(Thiên đường mây)
Đọc những câu thơ ấy ta như chạm vào cõi tâm linh tĩnh lặng, u nhã của “tâm thức” trong suy niệm về “cõi thiền tự tại bốn mùa hóa tâm” của bậc chân tu. Chính những câu thơ ấy hình thành trong tôi niềm đam mê tìm hiểu, khám phá về chốn thiền môn và triết lí cao thâm của Phật giáo. Dần dà tôi cũng tập làm một vài bài thơ “thiền” và tự nhủ hi vọng thơ mình chạm vào được chút thiền, nhưng làm xong đọc lên chỉ biết cười trừ vậy. “Muốn thiền mà chẳng ra thiền” Tự hỏi nguyên do? Chẳng lẽ đầu hàng? Hay chất thiền chưa ngấm vào mình? Rồi cơ duyên tới, tôi gặp được minh sư Đại Đức Thích Giác Không. Quý thầy là người thắp lên ngọn nến thiền trong tôi và hướng dẫn tôi cách tìm hiểu về minh triết của đạo Phật trong “ Bát nhã Tâm kinh” và trong các nghi thức Phật giáo. Tôi ngộ ra cái căn bản cốt lõi nhất của thiền chính là tại “tâm”. Tâm chi phối tất thảy mọi ý nghĩ, hành động của con người. Và chúng ta có thể thiền bất cứ lúc nào. Mỗi hành động, lời nói, cử chỉ của chúng ta đều là một cách thiền định nếu như ta biết “định hướng” cho mình.
Thiền là sự “tĩnh-thức” thâm sâu trong cõi giới tâm linh của những người có căn duyên với con đường hướng đạo. Thiền định trong ý nghĩ đem lại niềm an lạc cho con người trước những bất trắc ta gặp trên đường đời. Trong cái vô thường của cuộc sống con người cần tĩnh tâm để nhận thức lí giải căn nguyên mọi sự việc, từ đó xác định cho mình hướng giải quyết tốt nhất những vướng mắc, không làm phương hại đến bất kì mối quan hệ nào. Phải chăng vì lí do đó mà ngày càng có nhiều nhà doanh nghiệp, nhà kinh tế, người làm văn hóa… tìm đến với thiền. Với tôi tìm đến thiền trong thơ cũng là cách để cảm niệm và tìm cho mình sự an trú thảnh thơi trong tâm hồn. “Nhã ca” là bài thơ tôi viết không ngoài mục đích đó.
NHÃ CA

Chỉ còn ta với đêm thôi
chỉ còn ta với chơi vơi đêm này
ngõ trăng về trắng sương bay
triền sông đom đóm thắp đầy ánh sao

chuông xa thẽ thọt song đào
lời kinh Bát Nhã nao nao phận người
ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười
thở ra thường trụ những lời an nhiên?

Bồ Đề kết hạt linh thiêng
chờ đông qua, tới tháng giêng nảy mầm
chắp tay bái tạ tình thâm
cho con vô lượng trong ngần ước mơ.

Khổ đầu bài thơ nêu ra tình huống tâm trạng của nhân vật trữ tình đang đối diện với đêm, lắng nghe bước đi của thời gian, suy niệm về chính mình, về nỗi niềm u ẩn đang dằn vặt trong tâm can.
Chỉ còn ta với đêm thôi
chỉ còn ta với chơi vơi đêm này
Cuộc sống vốn là nơi để mỗi chúng ta thể nghiệm trí tuệ, nhân cách, lối ứng xử trước vô vàn mối qua hệ xã hội. Chẳng ai dám chắc mình sẽ không gặp những trở ngại trong công việc, tình cảm, thường ngày và chẳng ai dám chắc bao giờ mình cũng ứng xử minh mẫn trước những khó khăn. Những việc vụn vặt đôi khi chỉ loáng một nháy mắt có thể làm xong. Có những việc hệ trọng thì cần phải suy ngẫm, cân nhắc trong một thời gian cần thiết để tìm phương giải quyết. Và nhân vật trữ tình trong hai câu thơ trên đang rơi vào một trạng huống không bình thường, trạng huống đó ám ảnh thường nhật trong tâm trí đến độ “chơi vơi” chưa có phương cách hóa giải. Câu thơ hé mở sự “tĩnh thức” của nỗi lòng tưởng chừng như rơi vào bế tắc trong cõi lòng “đang giao động” ấy. Vốn là người có chút ít sự am hiểu về phật pháp tác giả không cho phép mình có cái nhìn bi quan về cái “nghiệp” mà mình đang trải nếm. Đã là con người sống trên cõi trần này ai mà chẳng có nghiệp? Nghiệp chẳng phải là hành động, lời nói, việc làm mà mỗi chúng ta tạo ra đó sao? Chúng ta làm nhiều việc tốt là đã tạo ra nghiệp lành và ngược lại, nếu làm nhiều việc ác sẽ tạo ra nghiệp ác (điều không hay); nói như thế không phải là sự biện hộ một cách thiếu căn cứ cho lí lẽ bản thân và trạng huống trong hai câu thơ trên. Trong nỗi niềm cô đơn và sự luân chuyển của thời gian từ chiều buông, vào đêm tối, về khuya, ta như cảm nhận rõ hơn cái nhìn tích cực, lạc quan của tác giả trước tình thế và trước sự màu nhiệm của lẽ vô thường
ngõ trăng về trắng sương bay
triền sông đom đóm thắp đầy ánh sao
“Ngõ trăng về trắng sương bay, Triền sông đom đóm thắp đầy ánh sao” chẳng phải là một thứ ánh sáng huyền diệu được thắp lên trong nỗi khấp khởi mong chờ về một sự đổi thay cảnh ngộ? Cái sắc không, đốn ngộ hay sự giác ngộ đã được khơi dậy trong ý nghĩ tích cực, là chỗ dựa vững chắc để nhân vật trữ tình thoát ra khỏi chốn mê khổ tìm đến niềm an lạc trong tâm?
chuông xa thẽ thọt song đào
lời kinh Bát Nhã nao nao phận người
ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười
thở ra thường trụ những lời an nhiên?
Nếu khổ thơ thứ nhất tả cái “động” thì khổ thơ thứ hai của bài thơ lại tả cái “tĩnh mịch” của không gian, thời gian, cảnh vật, lòng người. Tiếng “chuông xa” vọng về trong đêm khuya thanh vắng thật khẽ như đang trò chuyện thầm thì, như đang “thẽ thọt” ngoài “song đào”. Tiếng chuông là ngoại cảnh tác động vào hồn người. “lời kinh bát nhã” là sự thẩm thấu “thiền định từ trong tâm” đánh thức trí huệ của nhân vật trữ tình nhận thức về vai trò của đạo trong việc an ủi, xoa dịu nỗi đau cho con người. Cụm từ “nao nao phận người” chẳng phải đã chạm đến cõi giới nhân bản về tình yêu thương con người trong đạo Phật? thương người là để thương mình và biết trân trọng niềm hạnh phúc mà mình đang có, dẫu biết niềm hạnh phúc, khổ đau thật vô cùng, vô tận không thể đếm đong, đo lường. Chỉ khi ta gột bỏ hết sân si ta mới tìm được sự thảnh thơi trong hiện tại
ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười
thở ra thường trụ những lời an nhiên?
Đến lúc này có lẽ nhân vật trữ tình đã tìm được niềm vui “ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười” biết bằng lòng với điều mình có, biết quý trọng “hơi thở” của mình. Cái quan trọng nhất làm nên sự sống con người là hơi thở. Thiền Sư Nhất Hạnh nói: “thở đi con” là vậy. Còn thở là anh còn sống. Hơi thở khỏe mạnh thì sức sống trường tồn. Chính vì thế tác giả tự nhắc mình cần biết chắt chiu “hơi thở” và biết “thở ra thường trụ những lời an nhiên?” , “thường trụ” chẳng phải là “tâm định” an trú trong hiện tại hay sao? Dấu chấm hỏi cuối cặp câu thơ lục bát “ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười, thở ra thường trụ những lời an nhiên?”chẳng phải là lời nhắc nhở mình biết an định với những gì đang có, nhưng không được phép thỏa mãn? Vì hơi “thở” ( tức sự sống: đạo pháp, sức khỏe, nghề nghiệp… phải luôn được giữ gìn cho khỏe khoắn mới mong tồn tại lâu dài). Trong chuỗi suy ngẫm ấy tác giả bừng tỉnh để giác ngộ ra cái vô lượng của Phật pháp
Bồ Đề kết hạt linh thiêng
chờ đông qua, tới tháng giêng nảy mầm
chắp tay bái tạ tình thâm
cho con vô lượng trong ngần ước mơ.
Khổ cuối bài thơ vừa gợi hình tượng vừa nói được cái ý niệm thâm sâu của lòng biết ơn đối với cuộc đời. Hiện lên trước mắt ta là hình ảnh nhân vật trữ tình đang tọa thiền. Tay lần tràng hạt, tay chấp trước ngực thành kính “bái tạ tình thâm” (bái tạ song thân phụ mẫu, người thân, thầy cô, bạn hữu, tha nhân…đã cho ta hiểu thấu cái tốt- xấu, thiện- ác, thật-giả…) để ta có được trí tuệ sáng suốt, biết nuôi dưỡng ước mơ trong sáng tốt đẹp góp phần làm cho cuộc sống của mình “từng bước thong dong”.
Bài thơ mang ý vị thiền nhưng không xa rời cuộc sống hiện tại.Thiết nghĩ thiền là điểm khởi phát trong lòng mỗi người và cũng là sự vận động không ngừng trong cái vô biên, vô lượng của cuộc sống.

Đ.P.H










  Tạ Chính - bannhactinhmuathu@yahoo.com -  - Huế  (Ngày 2/01/2011 08:12:10 PM)
Bài thơ với ngôn ngữ phật giáo,giọng thơ tự nhiên, thâm đạt.
Tuy nhiên có những cặp câu như là 1 câu:
"Chỉ còn ta với đêm thôi
chỉ còn ta với chơi vơi đêm này"
"ta hồn nhiên nhoẻn miệng cười
thở ra thường trụ những lời an nhiên?"--->dấu "?" cuối câu nghe khó hiểu quá! Tôi không thích lắm (đây là chỉ ý kiến cá nhân, chắc chắn không hoàn toàn đúng)
Có thể do sự hiểu biết nông cạn của tôi chăng!Hy vọng được sự giải đáp của chính tác giả!Để mong hiểu rõ hơn dụng ý của tác giả!
chúc tác giả sức khỏe và có nhiều thơ hay!



  HOA HIỀN - nhơtimemnhe@yahoo.com - 0978 329 047 - HÀ NỘI  (Ngày 2/01/2011 10:00:31 AM)

TRÀ CA .

Mời ta nhấp vị hương trà
Ngắm mình mơ mộng chỉ là bóng trăng
Sương bơ vơ lối chị Hằng
Trông trà bốc vị tháng năm hao mòn…

Thoáng xa vọng tiếng nước non
Lời kinh tiếng kệ gột son tâm hồn
Chùa làng nằm ở đầu thôn
Như văng vẳng gió,tắm hồn trà khuya.

Ấm lòng gối lẻ chăn chia
Lời kinh bát nhã khuyên bề tin yêu
Dạy đời quên thói nói điêu
Như li trà nóng sưởi chiều giá đông.

HOA HIỀN

  phạm bình thường - binhthuong970@yahoo.com.vn - 01634605710 - khu 5_ hải hòa_ móng cái  (Ngày 2/01/2011 08:52:01 AM)
MÒ DUYÊN

ta về vắt áo cành sen
thả trăng đáy giếng mò duyên chữ tình
trăm năm mình vẫn là mình
rải hoa lên chữ, thêu hình lên thơ.

Chúc DPH: Một năm đạt nhiều ý tưởng_ PBT
  Nguyễn Xuân Huy - suongbanmai2009@gmail.com - 0984472949 - Ngô Đồng - Giao Thủy- Nam Định  (Ngày 2/01/2011 08:50:13 AM)
CỬA PHẬT

Mõ khua lặng lẽ chưa thôi
Chùa khuya ấm áp đầy vơi lúc này
Trăng mờ phủ lớp mây bay
Tam quan rộng lối đón đầy đóa sao ...

Vườn thanh xao xuyến trúc đào
Nam mô cửa Phật biết bao tình người
Đài sen thiền lặng đọng cười
Hào quang tỏa rạng nói lời siêu nhiên ...

Sắc-không là chốn muôn thiêng
Từ bi bác ái chung riêng gieo mầm
Hạt lần , mỗi hạt độ thân
Quyền năng Pháp Bảo sáng dần ...khoảng mơ !

NGUYỄN XUÂN HUY
Các bài khác: