TÒ HE ƠI!
Hoàng Anh Tuấn
Tò he xanh đỏ tím vàng
Mẹ mua mỗi độ chợ làng vào phiên
Chim cò, ngũ quả, cô tiên...
Nhỏ xinh đánh đổi nỗi niềm tuổi thơ
Cánh chuồn cõng đỏ giấc mơ
Tìm miền xanh thẳm bao giờ hiện ra?
Để cùng trồng nụ, trồng hoa
Để gieo câu hát đồng xa bềnh bồng:
"Tò he cụ bán mấy đồng?
Con mua một chiếc cho chồng con chơi
Chồng con đánh hỏng thì thôi
Con mua chiếc khác con chơi một mình"*
Trống chèo rạn ngói mái đình
Còn ai khéo nặn dáng hình làng quê?
Chợ phiên vẫn họp ven đê
Mà ông lão nặn tò he đâu rồi?
Gốc đa trống một chỗ ngồi
Ô kìa, bất chợt ngoài trời đổ mưa…
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Tò he ngóng mẹ chợ trưa lâu về...
H.A.T
* Đồng dao
-------------------------------
Tác giả Hoàng Anh Tuấn
Công an tỉnh Lào Cai
ĐT: 0914 877998
Email: hoanganhtuan.calc@gmail.com
|
Mình chưa thấy Tò he ngoài đời thật! Mình chỉ học về Tò he qua sách! Sách ấy mang Tò he đến với mình. Bài thơ của bạn mạnh tay lắm, kéo mình ra tận ngoài ấy với Tò he! Mình đi lạc rồi, giữa những Tò he!
Đọc Tò he, nhớ chợ quê
Đọc Tò he nhớ lối về tuổi thơ Chợ quê (Dương Thuý Mỹ) Chợ quê đã ngắn dọc hành Đã gầy quả mướp lại xanh trái đào Mớ cần cắt vội ngoài ao Giỏ tha tép nhảy, lào rào giữa phiên Lọ kẹo bột, miếng đường phên Con gà sống cưỡng gáy trên nắp lồng Chợ quê đã bé múi bòng Già đanh mớ cải, cỗ lòng lại ôi Chợ quê bánh đúc bẻ đôi Mắm tôm quệt ngược đợi người chơi sang Khoai đầu luống, gái giữa làng Chợ quê đội thúng bưng sàng ngả nong Lời quê thật đến đáy lòng Lành như cây lúa tròn bông tháng mười Cơm ăn mẻ bát xứ người Vẫn canh cánh một góc trời chợ quê Lấy chữ của TÒ HE ƠI cảm tác MUA GIÀ... Thân họa bài thơ TÒ HE ƠI
Đôi điều về con tò he để bạn đọc biết:
Tò he là một loại đồ chơi dân gian của trẻ em Việt Nam, có thể ăn được. Ngày nay, nặn tò he là một nét văn hóa dân gian ở các vùng quê Việt Nam, đặc biệt là Bắc Bộ. Nặn tò he xuất hiện tại miền Nam Việt Nam không rõ từ lúc nào nhưng có lẽ là do các nghệ nhân miền Bắc di cư vào Nam, tuy nhiên, mức độ phổ biến không bằng tại miền Bắc. Ban đầu, tò he là sản phẩm làm bằng bột dùng để cúng lễ nên chúng thường có hình thù các con vật như công, gà, trâu, bò, lợn, cá... vì vậy, người ta gọi sản phầm này là "đồ chơi chim cò". Một số vùng tại miền Bắc, người ta còn gọi là "con bánh" vì bên cạnh hình thù các con vật, người ta còn nặn bột thành nải chuối, quả cau, chân giò, đĩa xôi... tạo thành mâm cỗ để đi chùa dâng cúng. Sản phẩm này có màu sắc tương đối giống đồ thực và có pha thêm chút đường nên có thể ăn được. Về sau, sản phẩm được gắn vào một chiếc kèn ống, ở đầu kèn có quét chút mạch nha, khi thổi phát ra âm thanh "tò te" thế nên có lẽ người ta gọi là "tò te", sau này nói trại thành "tò he". Nơi có truyền thống về tò he là làng Xuân La, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Theo cách của làng này thì nguyên liệu chính để làm tò he là bột gạo có trộn ít nếp theo tỉ lệ 10 phần gạo, 1 phần nếp (sẽ cần phải cho thêm nhiều nếp để giữ được độ dẻo của sản phẩm nếu thời tiết nóng, hanh khô), trộn đều, ngâm nước rồi đem xay nhuyễn, luộc chín và nhào nhanh tay. Sau đó, người ta nắm bột lại thành từng vắt và nhuộm màu riêng từng vắt. Bốn màu cơ bản là vàng, đỏ, đen, xanh. Trước đây, người ta sử dụng màu có nguồn gốc từ thực vật và đun sôi với một ít bột: màu vàng làm từ hoa hòe hoặc củ nghệ, màu đỏ từ quả gấc hoặc dành dành, màu đen thì đốt rơm rạ hoặc dùng cây nhọ nồi, màu xanh lấy từ lá chàm hoặc lá riềng. Các màu sắc trung gian khác đều được tạo từ bốn màu này. Bây giờ, người ta chuyển sang sử dụng màu thực phẩm công nghiệp vì tiện ích của nó. Ngày nay, các nghệ nhân không chỉ nặn tò he với hình thù đơn giản về các con vật, các loại trái cây… nhưng còn nặn nhiều hình thù phong phú khác: 12 con giáp, nhiều nhất là các nhân vật mà trẻ con yêu thích như Aladin, Đôrêmon, Pokémon, Tề Thiên, Trư Bát Giới, Na Tra… Các nghệ nhân thường di chuyển xa nhà, rong ruổi trong các phiên chợ quê, các làng xóm, phố phường để nặn tò he bán, nhất là khi nơi nào có đình đám, hội hè. Hành trang đồ nghề của họ khá đơn giản: một con dao nhỏ, vài que tre, chút sáp ong, một cái lược và một thùng xốp để cắm tò he lên trưng bày.
Tò he - gợi nhớ chốn quê
“Thứ nhất bánh đa, thứ nhì bánh cuốn, thứ ba chim cò”. “Chim cò” ở đây chính là nghề nặn tò he, một trong những nghề phụ của người dân thôn Xuân La, xã Phượng Dực (Phú Xuyên - Hà Tây). Giữa đời sống ồn ào, gấp gáp, những nghệ nhân ở đây vẫn âm thầm góp phần bảo tồn một thú chơi dân gian truyền thống... Gian nan với nghề Không biết từ bao giờ, nghề làm “chim cò” đã xuất hiện ở Xuân La như nghề phụ bên cạnh làm bánh đa, bật bông, thêu, chạm khắc gỗ,... Nghệ nhân Nguyễn Văn Thuận lý giải: “Gọi là “nghề chim cò” vì trước đây người ta thường nặn chim, cò, hoa, lá… Khoảng năm 1953 – 1954 có thêm hình ảnh những anh chiến sỹ mặc áo trấn thủ, tay bồng súng”. Đã nhiều lần vinh dự đem tò he sang Mỹ và Nhật Bản giới thiệu với bạn bè quốc tế, ông Thuận tự hào: "khi mới 4 – 5 tuổi, tôi đã ngồi xem cha nặn rồi bắt chước theo. Đơn giản chỉ là những cục bột nếp được đấu màu xanh đỏ mà có sức hút thật lạ kỳ…". Nghề nặn tò he đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỷ mỷ đến từng chi tiết. Nguyên liệu chính là bột gạo nếp, gạo tẻ. Gạo trước khi đem giã hoặc xay phải trộn đều, ngâm nước, nhào thật kỹ đến khi không dính tay rồi nắm thành từng nắm nhỏ đem luộc chín. Theo ông Thuận, luộc bột là khâu quan trọng nhất, đòi hỏi sự khéo tay lẫn kinh nghiệm. Bột luộc xong, vớt ra để đấu màu. Có 7 màu cơ bản là xanh lá cây, xanh nước biển, đỏ, tím, vàng, trắng, đen, nếu muốn có thêm màu mới cho sinh động thì nghệ nhân phải trộn các màu với nhau. Ngoài ra, để có một con tò he hoàn chỉnh thì còn cần vòng nứa, một cái lược nhỏ (đầu này có răng lược, đầu kia vót nhọn), một con dao, một miếng sáp ong. Với đôi bàn tay tài hoa và trí tưởng tượng phong phú, đặc biệt là khả năng phối màu, các nghệ nhân làng Xuân La có thể tạo ra được rất nhiều hình tượng. Từ những bộ tam đa (Phúc, Lộc, Thọ), tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) đến các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi; 12 con giáp… Như nhiều nghề khác, nghề làm tò he Xuân La cũng trải qua nhiều thăng trầm, có lúc tưởng chừng mai một. Đáng mừng là, nếu như 10 – 15 năm trước, tò he chỉ xuất hiện thưa thớt trong các dịp lễ tết, thì nay đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm, từ Bắc chí Nam. Ông Nguyễn Văn Nhiều, Trưởng thôn Xuân La cho biết: “Hơn 50% số gia đình ở đây làm nghề nặn tò he, thậm chí, nhiều gia đình làm giàu bằng nghề tò he. Nhưng càng ngày, giá thóc gạo càng cao, chỉ bán với giá 3.000 – 5.000 đồng/con, trừ tiền xe cộ, ăn uống… thì lời lãi cũng chả đáng là bao!”. “Công viên là nhà, ghế đá là giường” Nghề nặn tò he, đồ nghề chỉ đơn giản, gọn nhẹ trong một cái hộp gỗ. Người bán tò he phải luôn di chuyển tìm địa điểm mới để có khách. Ngoài ra, người thợ phải “giương ăng ten” để nghe ngóng thị hiếu khách hàng. “Bây giờ bọn trẻ thích siêu nhân, Sôn - gô - ku, Pi - ca – chu (những nhân vật tranh truyện nổi tiếng)… hơn là trâu, bò, bông hoa. Cũng vì thế, chúng tôi luôn phải xem truyện tranh, phim hoạt hình” - ông Thuận cho biết. Dân làng Xuân La vẫn còn nhớ, ngày trước, vào tiết nông nhàn, vợ chồng ông Thuận lại kẻ giã gạo, người ngồi chẻ nứa uốn vòng làm tò he đem bán. Bà Bình, vợ ông quảy đôi thúng đi bán ở chợ Hôm, chợ Mơ, Cửa Nam, Ô Chợ Dừa (Hà Nội). Mỗi bánh vòng ngày ấy bán với giá 1 xu rưỡi, đủ để mua 1 kg gạo… Nhắc lại kỷ niệm cũ, bà nói: “Hai vợ chồng tôi chỉ làm nông, nhà lại đông con, nếu không có nghề tò he thì không vượt qua những ngày giáp hạt, hết gạo”. Từng đi khắp các tỉnh miền Bắc, Trung, Nam, cuối cùng, anh Nguyễn Văn Sự cũng kiếm được một chỗ ngồi trong Vườn bách thú Thủ Lệ (Hà Nội). Để có được chỗ ngồi này, mỗi tháng anh phải nộp vài trăm ngàn lệ phí cho Ban quản lý vườn thú. Anh bảo: “Đi rong mãi mỏi chân, phải tìm một chỗ để yên ổn mà làm ăn…”. Vừa nói, anh vừa thoăn thoắt vê, nặn hình chú Pi-ca-chu cho một cô bé chừng 5 tuổi đang say mê dõi theo từng động tác của anh. “Mỗi con tò he bán được 3.000 đồng, nghề này như đi câu, ngày được ngày không, thôi thì cứ ngày nhiều bù cho ngày ít, cũng đủ trang trải…” – anh cho biết. Cũng được “liệt” vào danh sách bán hàng rong, nên những người thợ nặn tò he luôn phải tay nặn bột, mắt nhìn công an. Nghệ nhân Nguyễn Văn Thuận kể lại: “Noel năm ngoái, vừa đặt tráp xuống góc phố Hàng Đào, chưa bán được que nào thì xe của công an trật tự phường đã tới. Tráp đồ nghề thì mất mà tiền trong túi chẳng có một xu, tôi bèn vào công viên nằm nghỉ, nhưng tiếc của, nên không chợp mắt nổi”. Ông bùi ngùi: “Đêm giao thừa là “đêm làm ăn” của những người thợ nặn tò he. Khi các gia đình sum họp bên mâm cỗ thì cũng là lúc chúng tôi nằm co ro trên ghế đá ở công viên.” Rời làng Xuân La, tôi vẫn thấy phảng phất đâu đó mùi thơm của gạo nếp, thứ hương của đồng quê đầy quyến rũ. Câu đồng dao của lũ trẻ chăn trâu lại vang vọng: “Tò he mỗi cái một đồng Em mua một cái cho chồng em chơi Chồng em đánh hỏng thì thôi Em mua cái khác em chơi một mình”. TÊN GỌI TÒ HE! |