Thứ năm, 18/06/2026,


Về tuổi hoa (Phùng Minh Hoài) (25/05/2010) 

VỀ TUỔI HOA

 

                                 Phùng Minh Hoài

 

Nhớ thi sĩ Hoàng Cầm

 

Thuở nào? Sông Đuống òa thơ

Giọt nào? Dìu dặt cung tơ thầm thì

Lời nào? Phong kín cơn mê

Ngàn xanh thao thiết vọng thề: Diêu bông!

                       

Chinh chuyền được mất – hư không

Tình thơ hoa thắm quyện vòng thiên hương

Pha lê vỡ tự minh thường

Trượng phu Kinh Bắc tha hương trở về…

 

Cõi tạm còn đó bến Mê

Ngày về lá biếc si mê cõi Người

Trăm năm vạn vật đổi dời

Mười hai tuổi mụ nhoẻn cười, mây bay...

 

Vũng Tàu  05.2010

PMH

 

 _________________

Tác giả Phùng Minh Hoài (Vũng Tàu)

Email:

 

Chia sẻ:                   Gửi cho bạn bè
Mỗi độc giả cũng là một tác giả
(Mời bạn cho ý kiến, cảm nhận và lời bình sau khi đọc bài viết trên)
Họ và tên  *
Địa chỉ  *
Email  *
Điện thoại  *
Nội dung (bạn cần sử dụng font chữ Unicode, có dấu; ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, email, điện thoại,... Nếu thiếu các thông tin đó, có thể chúng tôi sẽ từ chối cho hiển thị
 
  Phùng Minh Hoài - hoaipmdd@gmail.com - 0933510167 - Tổ 7, Thôn Tân Hạnh, Phú Mỹ, Tân Than2nh, BRVT  (Ngày 03/02/2012 12:39:42)

Gửi lucbat.com

NGUYỆN CẦU

Thơ ngây
Trong sáng
Nguyên trinh

Hoa niên
Trở giấc
Tâm linh
Phiêu bồng…

Chân Người
Gọi nắng
Mai hồng

Tay Người
Cày ải
Gieo trồng
Thi ca. Cánh đồng
Nhân thế
Bao la…

Bóng Người
Đổ xuống
Bóng ta -
Bóng mình!

Nhân gian
Bạc tóc
Điêu linh

Hợp – tan
Tan – hợp
Ân tình
Dõi trông…

Mắt Người
Màu đổi
Hư không

Tâm Người
Đan dệt
Sắc – Không
Nhiệm màu…

Cõi Người
Một thuở
Bể dâu…

Tình Người
Muôn thuở
Nguyện cầu…
SÁT NA.
(Têt nhâm thin)
PMH


  Phùng Minh Hoài - hoaipmdd@gmail.com - 0933510167 - Tổ 7, Thôn Tân Hạnh, Phú Mỹ, Tân Than2nh, BRVT  (Ngày 03/02/2012 11:39:38)

PHùng Minh Hoài xin gửi lại bài "Trả lời độc giả lucbat.com vời bài Về tuổi hoa" đã đăng mục: Độc giả và lucbat.com ngày 01.7
TẢN MẠN VỀ CÂU CHỮ
(Về những ý kiến với bài “ Về tuổi hoa” đăng trên lucbat.com)


Kính Gửi:
- Ban biên tập lucbat.com
- Độc giả trang lucbat.com

Vào cuối thượng tuần tháng 6, Tôi mở ra và đọc được những bài gửi của độc giả lucbat.com; vì bận rộn công việc, tới hôm nay (cuối hạ tuần) mới có được vài lời chia sẻ cùng mọi người – các bạn yêu thơ.
Trước hết xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp của quý độc giả và biên tập viên (BTV) Thuỷ Hướng Dương. Thật sự tôi tìm thấy ở đây nhiều điều thú vị mong được chia sẻ cùng mọi người.
Kho kiến thức là vô tận, con người mãi còn ngụp lặn trong nó. Người đời tìm kiếm nó từ muôn vàn cách (từ học đường, học hỏi, tìm kiếm, từ những bất chợt đời thường….mà nền tảng cốt lõi được tích tụ lại trong sách vở - kho tàng tri thức của nhân loại. Mà ngay cả kho tàng ấy cũng mãi không ngừng được “nhập thêm”, được hoàn thiện….).
Nói theo cách của Nhà thơ Trần Dần là “ cái gì ta biết: đấy là chớp mắt, cái gì ta không biết là Thiên Thu”.
Trần Dần, Lê Đạt là một trong những nhà thơ chủ chương “ Cách tân thơ”. Nhưng khi tiếp cận “những nhà thơ có chủ chương ấy” tôi lại thấy mình “dễ đọc” (thực ra là rất cảm) Lê Đạt, Trần Dần hơn là là một số bài thơ của nhà thơ Đặng Đình Hưng hoặc Hoàng Hưng.. (về điểm này tôi chỉ “ Kính nhi viễn chi”). Tuy nhiên, theo cách hiểu đơn giản của tôi thì: dù cách tân ra sao - mọi sáng tạo cũng nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là làm cho thơ hay hơn, đẹp hơn, lung linh hơn và tràn đầy sức sống (nói làm chi tới những loại thơ phong trào, thơ con cóc; nó có vị trí riêng của nó mà không được gọi là đại diện của Thơ).
Trở lại với bài thơ “Về tuổi hoa” tôi viết một tuần sau ngày mất của nhà thơ Hoàng Cầm. Thực ra trước đó tôi đã viết một bài tưởng nhớ Hoàng Cầm vào ngày 07/05/2010 có tựa “Dọc Thiên Thu “ - Thể thất Ngôn:
DỌC THIÊN THU
(Tưởng nhớ Thi sĩ Hoàng Cầm,
ngày 06/5 Người vào thiên thu )

Người về thăm thẳm cõi thiên di
Sông Đuống nghiêng lòng tạ bước đi
Chiếc lá Diêu Bông nương sóng nước
Ngàn năm cứ biếc tuổi đương thì…

Ơi những giọt lòng đã hóa thơ
Càn – Khôn quay miết sợi vi vô
Trượng phu Kinh Bắc mười hai tuổi
Ngọn cỏ trai tơ sắc đến giờ…

Lời ai da diết bên Huyền sử
Cùng váy xòe xuân vẫn hát ru
Từ vỡ pha – lê hồn thắm lại
Tình thơ thơm ngát tỏa thiên thu...
VT 07/5/2010
PMH
Bài thơ này tôi đã gửi cho các bạn thơ của mình mà không đăng (không thể đăng vào trang lục bát). Để có bài cho lucbat.com tôi đã viết biến tấu từ “Dọc thiên Thu” thành bài mới “Về tuổi hoa”. (Bởi tất cả nó giống nhau đến từng câu chữ. tứ thơ… mà hình ảnh Hoàng Cầm đã từ lâu ám ảnh tôi…)
VỀ TUỔI HOA
(Biến tấu của bài “Dọc thiên thu”)

Thuở nào?
Sông Đuống òa thơ
Giọt nào?
Dìu dặt cung tơ thầm thì
Lời nào?
Phong kín cơn mê
Ngàn xanh
thao thiết vọng thề: Diêu Bông..!
x x
x
Chinh chuyền
được mất – hư không
Tình thơ
hoa thắm quyện vòng thiên hương
Pha lê
vỡ tự minh thường
Trượng phu
Kinh Bắc tha hương trở về…
x x
x
Cõi tạm
còn đó bến Mê
Ngày về
lá biếc si mê cõi Người
Trăm năm
vạn vật đổi dời
Mười hai
tuổi mụ nhoẻn cười, mây bay...
VT 05.2010
PMH
Có thể (?) tuyệt đại đa số chúng ta đều biết (có thể không thuộc, không biết hết) bài “Lá Diêu Bông”, nhưng chắc không nhiều người (dân Amateur) tìm đọc về các tác phẩm và sự nghiệp của Hoàng Cầm. Bài thơ của tôi đã sử dụng nhiều “chữ” của Nhà Thơ – Thi sĩ Hoàng Cầm: Diêu Bông, đương thì, mười hai, pha lê, váy xòe xuân…(ngoài từ Diêu Bông, các từ kia là do tôi trìu mến mà gọi thế).
Tôi đã giải thích cho bạn thơ của tôi một trong những điều ấy. Tại sao lại “Trượng phu Kinh Bắc mười hai tuổi (hoặc 12 tuổi mụ nhẻn cười, mây bay…): bậc “trượng phu “ (không cần nói nữa. “ Bậc trượng phu như anh không thể ngã lòng” (lời của NT Phùng Quán). Mối tình của Hoàng Cầm thật trong sáng quá, thơ trẻ, đẹp tới độ thanh cao (bài Chị em xanh) - tiếp theo của “ Lá Diêu Bông”.

Chị vỡ pha lê. Bùn vấy tay
Hồn trong Em chuốc Chị chiều say
Là em cưới Chị Xanh thiêm thiếp
Sinh một đàn con mây trắng bay.
(Chị Em xanh)
Và mối tình ấy mãi đẹp ở tuổi 12:

Dưới kia sông chẳng quay đi
Mười hai tuổi cũ biết gì Chị ơi
(Gọi đôi)
Hay
Em mười hai tuổi tìm theo Chị
Qua cầm bà sấm. Bến cô mưa
(Quả vườn ổi)
Và với tôi – Hoàng Cầm đã là bậc trượng phu ngay từ tuổi hoa niên…
Ai đã mê thơ Hoàng Cầm sẽ nhận thấy ở thơ ông những nét độc đáo của sự sáng tạo (ông đã chẳng từng nói: cái tên Diêu Bông bất chợt đến và không phải ông “sáng tác” bài Lá Diêu Bông – Ông chỉ là người chép lại lời ai đó đọc cho ông (sau những gì trăn trở).
Tôi đã nhận thấy: một số “lá, cỏ” mới và lạ trong thơ ông: lá Lan Đao, Lá Diêu Bông, Cỏ trai tơ:
Em gánh gạo về dinh Phú hộ
Nứt vai thanh sẹo lá Lan Đao …
(Tắm Đêm)
Em váy xoè xuân
Rắc hương đường tuổi trẻ
……………
Em nhớ hình như sắc
Nhớ tên đời đời
Gọi nó:
Cỏ trai tơ.
(Cỏ trai tơ)
Thật tiếc nếu ta cứ mãi tìm tra ý nghĩa của từ trong từ điển, mà một số chắc chắn là không có. Mặc..! Bài thơ vẫn mãi đẹp, quá đẹp, quá đắm say và nương dẫn lòng người… Những bài thơ, những tứ thơ, những con chữ mang đến bao cảm xúc đẹp, ân cần, tao nhã liện có cần phải tìm tra nơi từ điển chăng (?). Khi mà tổng thể của nó, văn cảnh mà nó biểu đạt một tư tưởng (mà cả nghệ thuật – Thi cách và sự sáng tạo) với sự hài hoà chung, với một thông điệp gửi gắm; Liệu Hoàng Cầm có cần tra tìm chữ “bịa” của mình là hai từ “Diêu Bông” – khi dòng chảy cảm xúc đang cuộn dâng, trong sáng…
Biên tập viên Thuỷ Hướng Dương đã hiểu, cảm và nhẹ nhàng “ ta nên hểu và duy cảm theo tinh thần thơ của Hoàng Cầm” – Vẻ đẹp cao nhã và huyền nhiệm của ngôn từ chính là đích mà tự thân con chữ tìm tới… Mỹ học chỉ là những công việc mà người ta tìm đến sau nó (sự sáng tạo) mà thôi..
Nói theo nhà thơ Lê Đạt: “con chữ bầu nên nhà thơ” và không phải nhà thơ được bầu một lần và vĩnh viễn (nó không giống cái ghế quan chức) – Con chữ sẽ tái bầu và mãi tiếp tục – không có nhiệm kỳ. Có lẽ vì thế các bậc trượng phu gọi nhà thơ là “phu chữ” – Trân trọng làm sao!
Với sự công phu chân thành đầy tâm huyết, các nhà phê – bình có thể còn đưa ra những phân tích, nhận xét tinh tế, đẹp và “đắt” đến ngay cả tác giả của chúng cũng không dám chắc hiểu được mình đã “đạt” đến vậy (“Thi nhân Việt nam của Hoài Thanh- Hoài Chân” chẳng hạn).
Trong đợt đi lễ hội Chùa Hương tôi có một khổ thơ ngũ ngôn:
Reo ngân Bầu Sữa Mẹ *
Thánh thót giọt riêng mình
Từ sương giăng buông lối
Chợt “ Tri thường viết minh”**

Lơ lửng trên tầng không ***
Dòng giải oan bên dưới
Vọng nỗi niềm nhân gian
Suối nguồn đang tắm gội…

Câu “ Tri thường viết minh” được mượn nguyên văn trong Đạo - Đức kinh của Lão Tử - Từ điển chắc không có một câu dài thoòng loòng như vậy và phải hiểu nó: khi ta hiểu (ngộ) được chữ “thường” thì sẽ “minh” ra, hay khi ta đã “minh” sẽ thấy được sự “thường”. Từ “minh thường” trong bài thơ “Về tuổi hoa” chính mang tinh thần ấy.
BTV Thuỷ Hướng Dương mới nói ý nghĩa của cả câu “Trung trinh, tiết tháo, minh thường” (Khổng Tử) là nhân cách của người quân tử, chứ chưa giải thích cụ thể từng từ (mà liệu có cần giải thích từng con chữ ??!).

(*): Danh từ riêng. (**): Lời Lão Tử. (***): Đi cáp treo nên suối Giải Oan nằm dưới.
1. Trở về với từ “thao thiết”…
Tôi xin được mượn một hình ảnh để lý giải như sau: khi nghe câu “Đồ quỷ”! Từ quỷ chắc chắn có trong từ điển. Từ ghép “Đồ quỷ !” chỉ một lời mắng mỏ (khi ai đó làm bạn bực mình, hoặc với một việc nghịch phá, gây hư hỏng, đổ vỡ… của ai đó – với mình). Liệu có ai thích bị nghe mình là “Đồ quỷ”. Trong một văn cảnh nhất định, ngữ điệu của lời nói (nếu văn chương không diễn tả được thì sân khấu hay điện ảnh sẽ làm rất tốt, bằng diễn xuất của diễn viên) sẽ biểu đạt những tình cảm thân thương không ngờ: “Đồ ghủy… quỷ” nói theo ngữ âm Nam bộ và khi người nói kèm thêm động tác: ấn nhẹ một ngón tay vào trán người đối diện (bạn trai, bạn gái hoặc em út…) thì mới thấy cưng thương làm sao! “Ngữ pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa” là thế chăng (?).
Con chữ “thao thiết” dù (có là) Đại từ điển, nghĩa của nó cũng còn cần cập nhật dài thêm nữa…
Tôi không tra từ điển (nếu tra rồi mà nghĩa cũng chỉ là “riết róng, nghiệt ngã”, cũng không cần quan tâm) bởi trong văn cảnh ấy (Về tuổi hoa), trong câu thơ ấy, chữ “thao thiết” thật đẹp vô cùng – Nó là sự trăn trở, mong muốn đầy thôi thúc. Nó thổn thức, thao thức (lẽ dĩ nhiên không phải là mất ngủ!) về một nỗi niềm đau đáu… thân thương… Hoàng Cầm, với tình yêu thơ trẻ, đầy nỗi niềm đã thốt nên:

Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
- Diêu Bông hời
... ới Diêu Bông !
(Lá Diêu Bông)
“Diêu Bông hời” cứ mãi ngân vang, âm vang... PMH như mãi “còn thấy” và đã viết: “Ngàn xanh thao thiết vọng thề: Diêu Bông”.
Riêng về từ “thao thiết” dùng trong bài “Về tuổi hoa”, tôi quên hẳn các loại từ điển VN và có một đề nghị nhỏ: (nên chăng?) bổ sung thêm nghĩa của từ này.
Lại xin được mở rộng một chút, khi ta nghe bốn từ sau: “điên, cuồng, ngu, ngộ” thì với 4 từ trên liệu có ai thích “mặc” vào mình? Vậy mà ta phải trân trọng và ngưỡng mộ nó:
“Cao Tổ điên hào kiệt,
Võ Đế ngộ tràng sinh
Tăng Điểm cuồng thiên hạ
Nhan Tử ngu thánh hiền”
(Đường thi)
(Lưu Bang, Võ Đế, Tăng Điểm, Nhan Hồi: trong
đó tôi mê nhất người học trò trác việt của Khổng Tử).
Trước tinh hoa ấy, mọi thứ (nhiêu khê, hoa mỹ khác) phỏng còn có nghĩa!
2. Với câu “Chinh chuyền được mất – hư không”.
Từ “chinh chuyền” mà độc giả giải thích, tôi xin được bỏ 2 từ chơi bời trong “được mất chinh chuyền (Tiền) cũng chỉ là chơi bời, là hư không mà thôi” (Lính Thủy). Nhưng ý đồ, câu chữ của nó không thể tách rời khỏi tứ thơ. Những “cuộc chinh chuyền” này vừa là của “tuổi hoa”, vừa là của “đời người”… cũng chỉ là hư không mà thôi (chẳng còn gì hết, hư không hết) – để tương phản, làm nền cho câu kế tiếp: “Tình thơ hoa thắm quyện vòng thiên hương”. Sau “hư không ấy” còn lại gì ??
Cái “Tình thơ” ấy đẹp quá, như một vòng nguyệt quế tỏa hương (không phải là ngát hương) và là “thiên hương” kia – Hương thơ có ánh sáng (thứ hào quang tỏa ra từ các bậc minh vương, các đấng tối cao…).
Hôm nay, khi viết những dòng bộc bạch này, tôi thấy nhẹ lòng biết bao. Muốn nói thật nhiều, để diễn đạt cho trọn vẹn, cho chân thực, cho cặn kẽ nhẽ đời, nhưng có lẽ là không thể… Bởi ngay cả các bậc cao nhã uyên thâm trên đời này (có lẽ?) họ cũng không cố tình giảng giải, phân tích, thuyết phục người đọc. Tự thân con chữ sẽ làm việc đó. “CẢM NHẬN VÔ NGÔN”! Và xin được nói “MƯA RƠI KHÔNG CẦN PHIÊN DỊCH”, câu nói của NT. Trần Dần...
Vũng Tàu 30/6/2010
PMH



TB:
Độc giả (ĐG) Việt Hà (lucbat.com) có lo lắng“…về sự kết hợp từ ngữ một cách phi lý và cẩu thả. Ví dụ: cụ thể và tỷ mỉ thành cụ tỷ, quan tâm và lo ngại thành quan ngại ... làm mất đi sự trong sáng của Tiếng Việt”. Tôi đồng tình với việc cần “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” (đã từng có các mục: “Nói chuyện chữ và nghĩa”, “Dọn vườn” “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”… - Báo Văn Nghệ). Nhưng tôi xin được điều chỉnh lại một chút: chủ trương“Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” ĐG Việt Hà là đúng, nhưng việc đánh đồng(làm ví dụ về sự phi lý, cẩu thả trong việc ghép từ) của từ “cụ tỷ” và “quan ngại”thì… không ổn!
o Từ “cụ tỷ”: Không cần bận tâm. “Chữ” ấy không có văn hóa!
o Từ “quan ngại”: Rất đẹp - Nó diễn đạt trạng thái, niềm quan tâm, âu lo, day dứt, ái ngại – Với mong muốn nếu không được cảnh báo, chú ý sẽ dẫn tới những điều không tốt, những điều tệ hại, không chỉ cho “ta” mà cả cho “người” và không đành lòng được… (quyết không phải sự quan tâm “hời hợt, bỏ đấy, có lệ”).

  phung minh hoai - hoaipmdd@gmai.com - 0933510167 -   (Ngày 2/07/2010 03:04:27 PM)
Kính mời độc giả lucbat.com xem, góp ý bài "Tản mạn về câu chữ" viết ngày 30/6/2010, đăng trên "Bạn đọc với LUCBAT.COM" của tác giả "Về tuổi hoa" (Về những ý kiến với bài “Về tuổi hoa” đăng trên lục bát mỗi ngày 25/05/2010)
PMH.
  Lính thuỷ - Linhthuy55@gmail.com - 01682938853 - 459 Bạch Mai Hà Nội  (Ngày 30/05/2010 05:35:32 AM)
                   Mấy lời trao đổi thêm  

          Thật là vui khi những điều khúc mắc của mình lần đầu tiên đã được BTV của lucbatcom nhiệt tình giải đáp. Đây là thể hiện sự giao lưu giữa bạn đọc với lucbatcom rất gần gũi, chân tình và hoà đồng, thẳng thắn. Một bước chuyển biến, đổi mới của Lucbatcom.
          Tôi xin chân thành cảm ơn Biên tập viên Thuỷ Hướng Dương đã bớt chút thời gian bận rộn để trao đổi cùng tôi, giúp tôi hiểu tường tận một bài thơ trên mục lục bát mỗi ngày. Tôi cũng xin cảm ơn ý kiến của bạn Việt Hà đã tâm đắc với ý kiến đóng góp của tôi, nhằm mục đích cuối cùng là thơ của lucbatcom ngày càng hay hơn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và bạn đọc sẽ thu nhận được nhiều điều bổ ích khi đọc thơ.
             Tôi cũng xin có vài ý kiến trao đổi và bổ sung như sau:
            1/ Về từ “CHINH CHUYỀN”: May nhờ có bạn chỉ giúp nên tôi đã tìm thấy nó trong bài “ Bài thơ CHƠI TAM CÚC của Hoàng Cầm” đăng trên báo Công an Nhân dân. Bài viết đó có đoạn như sau:
                ......
                  Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
                  Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
                  Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
                  Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì.

                   Đứa được
                    Chinh chuyền xủng xoẻng
                   Đứa thua
                   Đáo gỡ ngoài thềm
                    Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
                    Đổi xe hồng đưa Chị đến quê
                            ......

        Đọc bài thơ của Hoàng Cầm thật giàu chi tiết, hình ảnh gợi hình, gợi cảm, thâu tóm hoàn hảo một trò chơi trí tuệ đơn giản mà vui, có chút chinh xèng gây men: chơi tam cúc, làm sống dậy hoài niệm đẹp về tuổi ấu thơ của lớp người trung niên chúng ta. Cỗ bài cong mép vì đã cũ, hành vi dấm dúi trốn cha giấu mẹ, rút trộm rơm nhà làm chiếu, người chơi, cách chơi, được phởn phơ, thua đáo gỡ... chân thực, đáng yêu đến lạ lùng. Chỉ bằng ấy chi tiết đã đủ tạo nên chất thơ, thứ thơ được gẩy ra từ rơm rạ của cuộc sống thanh bình dung dị nơi thôn dã.” ( Báo CAND)
           Theo câu thơ của Hoàng Cầm thì "chinh" chính là "đồng chinh", đồng xèng ( tiền ngày xưa, đơn vị tiền tệ đồng, hào, xu, chinh, xèng. Đồng chinh là đồng tiền hình tròn, có lỗ hình vuông, thường đúc chỡ Hán nổỉ ở trên). Khi chơi tam cúc ăn tiền là thú vui thì đứa được "chinh chuyền xủng xẻng", có nghĩa là trong túi thu về được nhiều "đồng chinh" nên kêu xủng xoẻng. Trong bài thơ của Phùng Minh Hoài, câu này có đại ý nói là: Được mất "chinh chuyền "(tiền) cũng chỉ là chơi bời, là hư không mà thôi!
         2/ Muốn biết từ “thao thiết” là gì, tôi đã tra cứu rất nhiều Từ điển Hán-Viêt, Việt-Hán, Hoa-Việt, Việt-Hoạ, Trung-Việt, Tiếng Việt, Từ điển học sinh, và nhân tiện mua luôn quyển Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh về dùng.
        Nay xin cung cấp thông tin như sau:
           - Theo Đại Từ điển tiếng Việt do GS Nguyễn Như Ý chủ biên thì "Thao thiết" là : riết róng, nghiệt ngã.
           - Theo Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh thì "Thao thiết" là : Làm việc quá gắt gao, quá nóng nảy.
          - Có một tài liệu khác nói: Thao thiết là chảy xiết, mãnh liệt . được sử dụng trong dòng sông/dòng suổi thao thiết chảy về xuôi.
      Việc sử dụng từ Thao thiết trong bài thơ “Về tuổi hoa” có hợp hay không thì xin Bạn đọc tự nhận xét.
         3/ Từ “minh thường” , tôi lục toàn bộ Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng Tử mà không thấy nói, trong tất cả các loại Từ điển cũng không có từ này, nên nghĩ là không có từ này. Vẫn mong Tác giả chỉ giúp xem nghĩa nó thế nào, và gốc gác nó lấy từ đâu. Không nên hiểu theo cảm tính được nên tôi cứ chờ vậy.
                             Lính Thuỷ
  BTV Thuỷ Hướng Dương  - cholita_sweet@yahoo.com.vn  - 0904009155 - Hà Nội   (Ngày 29/05/2010 08:27:13 AM)

  Kính gửi tác giả Việt Hà!

Tôi xin được trả lời về câu hỏi của chị như sau:
Từ động tân còn gọi là từ “thuật tân”. Là từ tố đứng trước biểu thị động tác, hành vi, từ tố đứng sau biểu thị sự vật liên quan. Từ hợp thành có thể mang tính danh từ hoặc động từ.

Rất cảm ơn sự quan tâm góp ý của chị!

Trân trọng!

  Việt Hà - Viethamhb@gmail.com - 0978057999 - Việt Trì - Phú Thọ  (Ngày 28/05/2010 09:13:54 PM)
       Kính gửi BBT !
      Tôi hoàn toàn tâm đắc với ý kiến đóng góp của anh Lính Thuỷ!
        Về ý kiến của chị Hướng Dương, tôi nhất trí với lời giải thích ý nghĩa của 2 từ "chinh chuyền" và "minh thường". Nhưng tôi không đồng tình với từ THAO THIẾT.

        Đúng như bạn Hướng Dương đã viết:

       1. Từ điển tiếng Việt ko có từ THAO mà chỉ có từ THAO THAO : là tính từ diễn đạt ai đó đang nói sôi nổi, trôi chảy, không ngớt miệng
VD : thao thao bất tuyệt...

         2. THIẾT :( Từ điển TV trang 744 ) là động từ : tỏ ra rất cần, rất muốn có.

         3. THAO THIẾT :  Đại Từ điển tiếng Việt, trang 1532 : Thao thiết : riết róng, nghiệt ngã.
 
        Theo bạn Hướng Dương thì THAO THAO ghép với THIẾT THA thành THAO THIẾT là "động từ ghép thành cụm từ động tân". Trong ngữ pháp tiếng Việt, tôi cũng mới chỉ biết các loại danh từ, động từ, tính từ, kết từ, phụ từ, trợ từ ...chứ chưa biết từ động tân là gì bạn ạ . Bạn có thể nói rõ hơn về thể loại từ động tân được ko?

       4. Lâu nay trên các diễn đàn báo chí thường phê phán về sự kết hợp từ ngữ một cách phi lý và cẩu thả. Ví dụ : cụ thể và tỷ mỉ thành cụ tỷ, quan tâm và lo ngại thành quan ngại ...làm mất đi sự trong sáng của Tiếng Việt. Vậy chúng ta cũng không nên sáng tạo ra những từ mới mẻ, không có ý nghĩa, nhất là trong thơ Lục bát vốn là trang thơ trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với tất cả mọi người !
                  Là một độc giả mới, tôi mạo muội góp ý đôi lời. Có gì ko phải mong các anh chị lượng thứ !
                                            V.H
  BTV Thuỷ Hướng Dương - cholita_sweet@yahoo.com.vn - 0904009155 - Hà Nội  (Ngày 29/05/2010 09:45:21 AM)
Kính gửi tác giả Lính Thủy!

         Nhân có thắc mắc của anh về câu chữ ngữ nghĩa trong bài thơ này, BT chúng tôi xin được thay mặt tác giả Phùng Minh Hoài trao đổi cùng anh và bạn đọc như sau:
         1) Về chữ “thao thiết”:
          - Thao có nghĩa là thao thao, liên tục. Ví dụ như câu "thao thao bất tuyệt" = nói liên tục liên hồi, nói liến thoắng không ngừng nghỉ.
        - Thiết có nghĩa là thiết tha, tính từ chỉ sự gắn bó đằm thắm. Từ này lấy ý từ câu "tòng tâm nhất thiết": một mực theo lòng mình.
         Vậy ‘thao thiết’ là động từ ghép lại thành cụm từ động tân, và nó hoàn toàn không được hiểu theo nghĩa là “riết róng, nghiệt ngã”. Vậy nên câu: "Ngàn xanh thao thiết vọng thề: Diêu bông!" là ý nói cố nhà thơ Hoàng Cầm luôn hoài vọng về một ước thề mang tên “Diêu Bông”.

         2) Câu thơ "Chinh chuyền được mất – hư không", là tác giả Phùng Minh Hoài sử dụng lại ý trong bài thơ “Cây tam cúc” của Hoàng Cầm: “Đứa được, chinh chuyền xủng xoẻng/ Đứa thua, đáo gỡ ngoài thềm...”. Vậy nên trong trường hợp này, chúng ta nên hiểu câu chữ theo cách duy cảm với thơ Hoàng Cầm.

           3) Câu “Pha lê vỡ tự minh thường”. Đúng là chữ “minh thường” nó không có trong từ điển tiếng Việt, nhưng ở đây tác giả Phùng Minh Hoài lấy ý từ câu chữ của Khổng Tử: “Trung trinh, tiết khí, minh thường”, câu này chỉ về những đức tính và nhân cách của người quân tử. Trong đó, “minh thường” được hiểu là người có trí tuệ mẫn tiệp khác thường.

         Vài lời nhỏ cùng trao đổi cùng tác giả Lính thủy.
  Phạm Minh Giắng - phamigia@gmail.com - 0987736365 - Trung tâm Bảo trợ xã hội Thái Bình  (Ngày 26/05/2010 04:53:53 AM)

Lấy chữ của VỀ TUỔI HOA cảm tác

MÂY BAY

Thuở nào thao thiết hư không
Người thơ dìu lá Diêu Bông trở về
Hoa pha lê vỡ bến mê
Tuổi mười hai nhoẻn biếc thề mây bay.

Phạm Minh Giắng

  Lính thuỷ - Linhthuy55@gmail.com - 01682938853 - 459 Bạch Mai Hà Nội  (Ngày 25/05/2010 08:36:25 PM)
          Tôi rất yêu thơ lục bát. Khi đọc thơ, tôi muốn đọc và hiểu cặn kẽ bài thơ này quá đi thôi. Nhưng đọc từ đầu bài , bị vấp mấy chỗ chưa hiểu, chẳng khác nào đang ung dung ngồi xe đi thưởng ngoạn danh lam thắng cảnh mà chiếc xe khi thì vấp phải hòn đá, khi thì tụt xuống ổ gà làm mất cả hứng thú và tâm hồn thơ mộng.
          Vì vậy xin tác giả hoặc Biên tập viên giải thích cho tôi mấy chỗ sau đây :
          - "Ngàn xanh thao thiết vọng thề: Diêu bông!". Theo tôi hiểu thì "thao thiết" là "riết róng/nghiệt ngã". Vậy thì tại sao ở đây ngàn xanh lại "riết róng/nghiệt ngã" vọng thề Diêu bông được. Lời thề nó phải sâu sắc, ấn tượng, thiêng liêng chứ ạ.
           - "Chinh chuyền được mất – hư không". "Chinh chuyền" là gì, xin được tác giả giải thích cho ạ.
          - "Pha lê vỡ tự minh thường" . Xin hỏi "minh thường" là gì ạ? Lục tung tất cả kho ngôn từ tiếng Việt và Hán Việt cũng không thấy từ này.
             Tôi xin chân thành cảm ơn.
  Phạm Văn Tự  - thcsts@gmail.com - 0919760699 - Quản Bạ - Hầ Giang  (Ngày 25/05/2010 02:04:59 PM)

NHẠT NHOÀ
Người ra đi...nhớ cả đời
Tháng năm luyến tiếc cái thời tuổi hoa
Đau chi...lòng dạ xót xa
Mất còn...còn mất...nhạt nhoà bến xưa...

Đất trời mưa nắng... nắng mưa
Đò buồn nằm đó, người chưa muốn về...!
Phạm Tự

Các bài khác: