 Tú Lục Bát - tulucbat@gmail.com - - Hà Nội
(Ngày 5/05/2010 06:22:18 AM)
Viết và Làm!
Tám câu thơ, chỉ tám dòng, Chặt ra hai chục, thoáng trông dài liền. Theo dòng, nhuận bút thành tiền, Kém gì năm khổ Lục trên Bát này!
Thầy San lý luận rất hay, Làm theo thầy viết, thơ thầy chớ theo! Thơ vách đá... đã có nhiều, Thơ lan can... lại ra điều lạ hơn.
Khối người muốn phá, vẫn chờn, Để dành câu cuối chặt luôn bốn dòng! Thơ gót giầy, nhọn sắc không? Lơ mơ đứng cạnh... ai mong chân què!
Tú Lục Bát
 Phạm Minh Giắng - phamigia@gmail.com - 0987736365 - Trung tâm Bảo trợ xã hội Thái Bình
(Ngày 1/05/2010 10:10:44 AM)
Lấy chữ của ĐÊM XANH cảm tác
TRĂNG RU
Độc hành trăng gởi về đâu? Trà khan, sương lạnh, đêm thâu, gió ngàn Trăng ru lồng giấc thế gian Lắng sâu nỗi nhớ, chạm bàn tay Thơ.
Phạm Minh Giắng
 Trần Thị Lợi - coloiha@yahoo.com.vn - 0436361339 - 118 Yên Lạc, Vĩnh Tuy, Hai Bà Trưng, Hà Nội
(Ngày 1/05/2010 09:22:41 AM)
Tôi xin được chia sẻ cùng tác giả cho vui nhé. Thực ra tôi thấy đây là bài thơ lục bát khá nhuần về vần điệu, chỉ khác kiểu ở cách trình bày, chấm câu, ngắt dòng.Nếu cứ chấm câu, không xuống dòng và trình bày đúng kiểu trên 6 dưới tám thì tôi thấy cũng chẳng ảnh hưởng gì cả. Sau đây tôi xin có đôi vần cộng hưởng cùng bài ĐÊM XANH của tác giả nhé:
Trăng, thơ, sương, gió cùng xanh Mây ngàn hòa với cây cành nhuộm đêm Nỗi ngày như thẳm xa thêm Chạm tay, thảng thốt nỗi đêm canh trầy... Trần Thị Lợi
 Nguyễn Đức Trường - suthuthach@gmail.com - 01682938853 - 47/459 Bạch Mai, Hà Nội
(Ngày 1/05/2010 09:24:17 AM)
KHÔNG THỂ GỌI LÀ BÀI THƠ LỤC BÁT (Cảm nhận chân thành) Đọc bài thơ Đêm xanh của Tác giả Phạm Ngọc San, tôi thấy nó chả Lục bát tí nào. Nếu gọi là Thơ Tự do thì cũng oan cho thể thơ này, vì Thơ Tự do nói là tự do thôi, chứ nó vẫn phải nằm trong quy luật vần và nhịp, tiết tấu của nó. Còn ở đây, ta gọi là Thơ Quá tự do mới đúng. Nhìn bài thơ, tôi thấy nó giống cái song cửa ở lan can trước hiên nhà. Không thể gọi bài thơ Đêm xanh là Thơ Lục bát vì mấy lẽ sau đây: Một là, theo Đại Từ điển Việt Nam, của Bộ Giáo dục và đào tạo và Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Như Ý chủ biên thì Câu thơ được định nghĩa là : “Đơn vị cơ bản của thơ ca, có tiết tấu, thường viết một dòng.”. Bài thơ Đêm xanh có 20 dòng, ứng với 20 câu. Hai là, cũng theo Từ điển này, Câu thơ lục bát được định nghĩa là: “Thể thơ riêng của Việt Nam, cứ một câu 6 chữ lại đến một câu 8 chữ”. Bài Đêm xanh có duy nhất 1 câu 6 chữ. Ba là, theo định nghiã vầ Câu thơ ở trên, bài thơ Đêm xanh có 20 câu, trong đó có 13 câu hai chữ, 6 câu 4 chữ, và một câu 6 chữ duy nhất. Câu và số chữ trong câu không theo quy luật nào. Bốn là cách gieo vần, trong các câu trên, nếu ta đọc từng câu thơ theo đúng nghĩa của nó thì chỉ câu 11,12, và 13, câu 16 và 17 vần với nhau theo cước vận, còn lại không câu nào vần với nhau cả. Năm là nhịp. Một câu thư lục hoặc bát thường có 2-4 nhịp, tối thiểu là hai nhịp. Trong bài đêm xanh, đa số các câu 2 chữ và mỗi câu chỉ có một nhịp duy nhất. Câu thứ 4 có hai nhịp 1+3, câu 17 có hai nhịp 3+3. Nếu đọc và ngâm theo nguyên tắc ngắt hơi sau mỗi câu thì đọc bài thơ này rất rời rạc, không có vần. Còn đọc liền mấy câu, cố ghép vần theo lục bát thì lại sai luật đọc thơ là phải ngắt hơi ở cuối câu. Còn cố ý đọc theo lục bát, thì chữ ánh trăng và độc hành gọi là lạc vận hay cưỡng vận, nói nôm na là không vần với nhau. Nên hạn chế dùng gạch ngang ( - ) trong các bài thơ ( Theo Thư ngỏ của Lục bát com) Kết luận: như vậy, xét về câu, vần và nhịp... thì bài thơ trên không có một chút nào dính dáng đến thơ Lục bát cả. Vì vậy, không thể gọi là thơ Lục bát được.
Tham khảo bài “Đôi điều về thơ Lục bát” cũng của Tác giả Phạm Ngọc San , đăng trên Lục bát xưa nay ngày 30/4/2009, cách hôm nay đúng tròn một năm, ta thấy như sau: LỤC BÁT là thể thơ cổ truyền của người VIỆT từ lâu đã ăn sâu bắt rễ trong nhân dân, thể hiện rõ tính dân tộc của thơ Việt Nam. Đã là người VIỆT, có ai không thuộc đôi câu LỤC BÁT. Từ người có học vị cao đến người dân không biết chữ, đều có thể thuộc và thậm chí ứng tác một đôi câu lục bát trong giao tiếp đời thường. Gọi là thơ Lục bát vì trong bài thơ có 2 cặp câu: trên 6, dưới 8 đi liền với nhau Ví dụ: Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng. ..... 1- Vần của thơ Lục bát Những từ cùng âm điệu tạo nhịp cầu nối liền về âm luật cho người đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Thơ Lục bát vần rất đơn giản.Có 2 loại vần: Vần bằng: Vần của cậu lục cũng như câu bát đều là thanh bằng. - Vần cước : (vần chân : vc) ở cuối câu lục và cuối câu bát. - Vần yêu : (vần lưng : vl) ở giữa câu bát (từ thứ 6 hoặc cá biệt ở từ thứ 4). Ví dụ: Trăm năm tính cuộc vuông tròn (vc) Phải dò cho đến ngọn nguồn (vl) đáy sông.(vc) Nàng rằng muôn đợi ơn lòng (vc) Chút e bên thú bên tòng (vl) dễ đâu (Vc) Và cứ thế tiếp diễn. Hay như: Trên trời mây trắng như bông (vc), Ở dưới cánh đồng (vl),bông trắng như mây(vc) (Cao dao mới NGÔ VĂN PHÚ) Trong lục bát vần lưng và vần chân liên tiếp móc nối với nhau. Vần trắc: Trong thơ lục bát vần trắc rất ít dùng.Thỉnh thoảng mới gặp trong phong dao. Tò vò mày nuôi con nhện, Đến khi nó nhớn, nó quện nhau đi Tò vò ngồi khóc tỉ ti, Nhện ơi, nhện hỡi, mày đi đàng nào? Đây chỉ là những nguyên tắc chung, trong lục bát còn nhiều ngoại lệ và biến thể, nhưng ta không bàn đến. Thơ LỤC BÁT có những niêm luật riêng 2- Niêm luật trong thơ Lục bát Thanh bằng: Những từ thuộc thanh bằng: - Thanh bằng cao (thanh ngang : những từ không dấu ) - Thanh bằng thấp(thanh huyền: những từ có dấu huyền) Thanh trắc: Những từ có các dấu: sắc,nặng hỏi ngã đều thuộc 4 thanh trắc: Niêm luật bằng trắc cho câu lục bát Luật bằng - trắc cho cả câu lục và câu bát: v. chân câu lục Từ : 1 (2) 3 (4) 5 (6) 7 (8) Thanh: Tựdo bằng tựdo trắc tựdo bằng tựdo bằng
v.lưng v.chân câu bát câu bát Trăm năm trong cõi người ta (vần) Chữ tài chữ mênh khéo là(vl) ghét nhau (vc) Trải qua một cuộc bể dâu(vc) Những điều trông thấy mà đau(vl) đớn lòng(vc) - Từ thứ 2 của câu lục và câu bát phải là thanh bằng - Từ thứ 4 của câu lục và câu bát phải là thanh trắc - Các từ số 2,4,6 và 8 phải dứt khoát theo đúng luật bằng trắc - Các từ số 2 và sô 4 của câu lục NÊM với từ số 2 và số 4 của câu bát - Nếu từ số 2 của câu lục thanh trắc, thường ở dạng tiểu đối, tức là mỗi vế 3 từ đối nhau và theo luật: Từ : 1 (2) (3) 4 5 (6) Thanh : tựdo trắc trắc tựdo tựdo bằng(vc) Khi chén rượu, lúc cuộc cờ Nước vỏ lựu, máu mao gà Người quốc sắc, kẻ thiên tài Khi tựa gối, khi cúi đầu…. - Nếu từ số 2 của câu bát là thanh trắc thì Từ: 1 (2) 3 (4) 5 (6) 7 (8) - -------------------------------------------------------------------------- Thanh : Tựdo trắc tựdo bằng tựdo trắc tựdo bằng (vần) (vần) Ví dụ:
- Có con thì mặc có con, Lưng thắt cho tròn, đi lấy chồng quan. ( hay dùng: thắt lưng cho giòn đi lấy chồng quan) - Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
3- Nhịp điệu Trong thơ lục bát, việc ngắt nhịp không cố định. Có khi là nhịp 2, nhịp 3, nhịp 4 hoặc nhịp 5, xen kẽ nhau tuỳ giai điệu: Hôm qua / em đi tỉnh về, Đợi em / ở mãi con đê đầu làng. Khăn nhung / quần lĩnh / rộn ràng Áo cài khuy bấm,/ em làm khổ tôi! Nào đâu / cái yếm lụa sồi? Cái dây lưng đũi / nhuộm hồi sang xuân? Nào đâu / cái áo tứ thân? Cái khăn mỏ quạ / cái quần nái đen? ………
Hôm qua / em đi / tỉnh về, Hương đồng / gió nội / bay đi / ít nhiều!
Đặc biệt trong TRUYỆN KIỀU, ta thấy rất rõ thi hào Nguyễn Du đã sử dụng tài tình (không nói đến ngôn từ) các thủ thuật như: trung đối, tiểu đối, điệp vận, phong yêu… tạo nên nhạc điệu vô cùng phong phú.
4- Lục bát trong đời sống đương đại
LỤC BÁT nhiều ưu điểm như vậy, hay như vậy, dễ làm như vậy …nhưng trong nhịp sống hối hả đương đại, tư duy của người đương đại cũng theo một nhịp điệu tố lốc… thì LỤC BÁT sẽ được áp dụng thế nào trong nền thi ca Việt Nam đương đại? Và làm thế nào giữ gìn thể Lục bát mà vẫn phù hợp với nhịp sống mới ngày nay? LỤC BÁT hay THƠ MỚI, hay ĐƯỜNG LUẬT v.v…đều là công cụ của nhà thơ. Nhà thơ chọn thể thơ phù hợp với nội dung và nhịp điệu của bài thơ mà tác giả sáng tác. Nếu ngôn từ của lục bát ngày nay không dùng các từ ước lệ, thể thơ biến cách …. Thì liệu thế nào nhỉ? Có một lần tôi đọc một bài thơ MỚI, loại thơ không vần của một nhà thơ trẻ, bài thơ nhịp tư duy dồn dập, lập ý cao siêu, lập ngôn trừu tượng, tôi cũng cảm được cái hay… Nhưng rồi thầm nghĩ : “Sao giống thơ dịch thế, ý ăm ắp còn nhạc điệu ở đâu nhỉ? Ta có thể thuộc được bài thơ này không??? Nếu các cháu học sinh phải học thuộc lòng thì thế nào nhỉ ???” Và bất giác ngâm câu KIỀU: “Rằng hay thì thật là hay…..”
Đọc bài này, ta thấy Tác giả đã có những ý kiến về thơ Lục bát thật chuẩn mực, chí lý và xác đáng. Đây là tiêu chí để đánh giá như thế nào gọi là thơ Lục bát. Theo các lý luận sắc bén và có sức thuyết phục trong bài trên của Tác giả Phạm ngọc San, ta thấy càng không thể gọi bài thơ Đêm xanh là thơ Lục bát được. Như vậy, qua bài Đêm xanh, không phải là tác giả không biết luật thơ lục bát, mà có lẽ tác giả chỉ là thể nghiệm một hình thơ theo phong cách sắp đặt chữ theo trường phái của nghệ thuật sắp đặt chăng? và qua đó lấy ý kiến bạn đọc chăng? Nếu được hỏi ý kiến thì tôi chân thành mà trả lời rằng: "Xin đừng cách tân thơ Lục bát kiểu này, chỉ có thể phá hỏng thơ Lục bát truyền thống mà thôi!" Nhiều người biết rằng, nhưng năm 80-90 của thế kỷ trước, Chèo truyền thống Việt nam đã một thời lạm phát chèo cải biên, vứt hết các tiếng đệm, tiếng đưa hơi, để ê a kiểu nhạc vàng, chỉ được mấy năm là chết yểu. Giờ đây, lại quay lại chèo truyền thống. Nếu ai xem vở chèo Trầu Cau, chuyện xưa tích cũ, với cách đạo diễn và xử lý cảnh, tình huống mới của đạo diễn trẻ Hoàng Mai, nhưng vẫn giữ các làn điêu chèo truyền thống, nên đã được dư luận hoan nghênh.
Đây là đôi điều thiển ý của cá nhân tôi về nghệ thuật câu, vần, nhịp, nhạc điệu của bài thơ, mà không bàn đến nội dung của bài thơ. Trước bức xúc Làm thế nào để "Thơ Lục bát trở thành Di sản văn hoá phi vật thể của Thế giới" như câu khẩu hiệu ở trang chủ Lucbat.com đã nêu... Tôi nghĩ rằng, nếu cách tân thơ kiểu này thì ước mong Thơ Lục bát trở thành "Di sản văn hoá phi vật thể của Thế giới" sẽ là điều không tưởng...
Nếu có điều gì không vừa ý, xin Tác giả và Bạn đọc thứ lỗi
 MINH TUẤN - ngongiochungtinh@yahoo.com - 0042 0723 661 057 - cộng hòa Séc
(Ngày 1/05/2010 03:58:15 AM)
Thân họa với bạn Phạm Ngọc San bài ĐÊM XANH ...Buỗn bã nhé/Chúc tác giả vui
ĐÊM GẦY.
Quê chiều, gió lạnh mưa tuôn Trao đêm xơ xác khung buồn tả tơi Gió hoang khẽ chạm nỗi đời Mắt em bỗng chảy...Lệ khơi muôn hàng .
Quê người ,anh kiếp lang thang Ngày thơ gom nỗi ,đêm dàn bài thương . Trà pha một bóng sông Tương … Mời mưa làm khách, mời sương làm tình.
Trăng ôm mây… Một bóng hình Vòng tay ôm của chúng mình là mơ.
MINH TUẤN
 Chử Thu Hằng - nguoibinhthuong1957@yahoo.com - 01663332171 - Sơn Tây, Ba Đình, Hà Nội
(Ngày 30/04/2010 11:42:45 PM)
Thơ người lạnh nỗi cô đơn Lạnh trong tim, lạnh trong hồn...Trời ơi! Đêm dài, trăng lạnh, sương rơi Độc hành ngọn gió ...gửi lời về đâu?
Nỗi ngày day dứt lắng sâu Nỗi đêm khắc khoải, giấc sầu chẳng say Mộng du...tay chạm bàn tay Giật mình. Đau. Vỡ thơ gầy. Vỡ trăng.
Chử Thu Hằng
|