TRƯỚC MỘ NGUYỄN DU

Vũ Đình Mai
Trăm năm là mấy kiếp người
Tình yêu vẫn hát những lời tình yêu
Song đào vắt mảnh trăng xiêu
Chỉ thương con cháu Thuý Kiều bán thân
Bảnh bao vẫn Mã Giám Sinh
Hồ Tôn Hiến đã thay hình, đổi tên
Khó tìm là vãi Giác Duyên
Tú Bà thì vẫn y nguyên Tú Bà...
Dặm nghìn nước thẳm non xa *
Con về dâng chút hương hoa lên Người!
___
*Nguyên văn trong Kiều của Nguyễn Du:
"Dặm nghìn nước thẳm non xa
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này"
V.Đ.M
__________
Vũ Đình Mai - 5/43 Trần Phú, Hải Phòng
Điện thoại: 0313 592 101
Email: hoamai1940@yahoo.com.vn
|
"Có những người không thấy cả rừng thông, mà chỉ để ý đến những cây thông. Lại có người mải ca ngợi rừng thông trong khi các cây thông đang thối rữa" Manuen Gacxia Lobed. nhà văn Cuba, trong tác phẩm "Người đàn bà cuối cùng và cuộc chiến đấu sắp tới".
Đúng vậy! Thưa Chấn xen sâng, Nhất định là như thế rồi Ta đùa một tí cho vui thôi mà! Trung Cúa mấy yếu liu ba Tháng sư tru mính sư tha mấn tờ! Thưa bác Tuỳ, ấy là em hoạ lại câu chuyện vui của bác mai thôi, chứ Trung quốc chỉ mạnh về thơ thất ngôn bát cú chứ làm ì có thơ lục bát." ủa sua : ý ting, trung cúa mấy yếu liu ba sư trang, roản sen sâng "! Cảm ơn bác đã để tâm. Câu chuyện của bác Mai và bác Lâm thật thú vị.Không giấu gì hai bác tôi cũng đi học ở TQ mấy năm nhưng không thấy có thơ lục bát như VN ta. Tôi cứ nghĩ rằng VN ta nhờ ơn tiếng mẹ đẻ có 6 thanh, âm điệu rất phong phú mà làm được thơ lục bát là nhờ có hai thanh huyền và thanh không dấu nên mới ghép vào vần được. Nhưng trong tiếng TQ chỉ có 4 thanh, đọc gần giống như tiếng ta là: La, Lá, Lả, Là (thanh thứ tư này đọc rất mạnh không giống thanh huyền của ta).Có lẽ vì vậy nên người Tàu không có thơ lục bát. Bây giờ nghe hai bác nói tôi nghĩ rằng có lẽ ngày xưa người Tàu cũng có thơ lục bát nhưng vì khó quá nên sau này người ta không tiếp tục làm nữa.Tôi có thể dẫn chứng một câu như sau. Theo kiểu thơ lục bát của VN thì người TQ cũng có thể viết (theo cách phiên âm na ná tiếng phổ thông TQ):Sưa hây chú y sưa hây/Duê Nán Trung cúa xung ti hảo lờ (xã hội xã hội chủ nghiã. Việt Các bác có nghĩ là ta nên truyền bá kinh nghiệm để người TQ khôi phục lại thơ lục bát của họ không? Vui một tí có gì không phải mong hai bác và bạn đọc lượng thứ cho. Đọc xong em mới ngỡ ra: Nước Tàu cũng có "liu ba sư tràng" ! Tưởng là quốc tuý Việt Nam Thanh Tâm cũng đọc rõ ràng: "liu ba". Ghi chú: hoạ theo tác giả dùng âm Bắc kinh viết "sưa hây sưa hây chủ y" ( xã hội xã hội chủ nghĩa) tôi cũng mạn phép viết "liu ba sư trang" ( liu ba shi zhang - lục bát thi chương) nghĩ là :"thơ lục bát" cho đồng cảm. Kính thưa Ban Biên tập, kính thưa bác Nguyễn Đức Trường cùng toàn thể quan viên của sân chơi Lục bát. Em xin trích hầu các bác về chủ nghĩa giáo điều trong Từ điển triết học như sau: Đó là sự tư duy phi lịch sử, tiếp thu những nguyên lý một cách mù quáng, không có phê phán. Hiểu một cách máy móc vào văn từ mà không hiểu theo tinh thần câu chữ... (Hà Nội 1987- tr 182). Quyển Đại từ điển Triết học XB năm 2002 cũng viết tương tự, nhưng dài dòng hơn. ( tr 388 ) Bây giờ cho em thưa vào việc chính: Chả là em được bám càng bọn đàn em đi du lịch một chuyến sang Bắc Kinh. Em đánh đồng thiếp xuống gặp cụ Thanh Tâm Tài Nhân. Em tự giới thiệu là hậu duệ của Nguyễn Du và khen đất nước Trung Hoa xây dựng Sưa hây sưa hây chủ y rất thành công, đường xá, nhà cửa cực kỳ to đẹp. Cụ bảo: đấy chỉ là một mặt thôi, rồi Cụ đọc cho mấy câu lục bát. Về Việt Trong truyện Kiều, trừ tên ta đứng ở bìa, còn các nhân vật đều là người Tầu cả. Bọn Mã Giám Sinh, Hồ Tôn Hiến, Tú Bà...có sống lại, có thay hình đổi dạng thế nào là chuyện của chúng với cái nước Tầu của chúng. Người Kính thưa các bác, câu chuyện của em đã hết. Xin cám ơn ! Xin cảm ơn các anh TM Tuân và NX Nam đã có nhã ý tặng tôi cái mũ chống mưa và chống nắng. Nhưng không may cái mũ ấy tôi đội không vừa, nên xin gửi lại và đa tạ các anh. Có lẽ các anh cũng hiểu, theo Đại từ điển Tiếng Việt, "giáo điều" là luận điểm cơ bản của một tôn giáo, được tín đồ tin một cách tuyệt đối, hoặc là một luận điểm được công nhận mà không chứng minh. Trong bài bình thơ trên, tôi không dùng bất cứ một luận điểm nào cả, mà tôi nhận thức vấn đề một cách toàn diện, chứ không phiến diện màu hồng như NX Nam đã nghĩ, hoặc màu xám như một số người. Tôi nhìn qua cặp kính trắng, không màu, một cách khách quan, toàn diện, chứ không chỉ nhìn một góc nhỏ của sự vật theo kiểu thày bói xem voi. Tôi nhìn thấy cả phần tích cực và tiêu cực. Nhưng có lẽ phần tiêu cực tôi nhìn không được nhiều như một số người đã nhìn, vì cái hình ảnh như bài thơ của NX Nam dẫn ra: Hồn nhiên gửi lại quê nhà Em lên phố, áo xẻ tà rõ sâu Bóc đi cái vỏ áo nâu nõn là em mắc lưỡi câu làm mồi Cảnh này, tôi không gặp bao giờ, vì tôi chưa bao giờ tiếp xúc với những người làm nghề ấy. Vì vậy, tôi không nhìn thấy mảng tối, cái xấu, cái tiêu cực, nhiều như mội người chăng? Tôi không vận dụng luận điểm mà chỉ lấy ví dụ về xã hội hiện nay do Đảng ta đang xây dựng thôi. Có điều tâm sự như vậy, một lần nữa, không dám nhận cái mũ do hai anh tặng cho. Nói như N.Đ.Trường thì có lẽ V.Đ.Mai phải viết thiên truyện "hậu Kiều" mới đủ. Thơ là biểu cảm tinh thần, góc cạnh của cuộc đời. Dám nhìn ra cái xấu, cái tiêu cực của xã hội để xây dựng xã hội tốt đẹp là việc nên và cần phải làm. Tiếc rằng vẫn còn nhừng người thích tô vẽ, ưa gam màu hồng mà không dám nhìn vào mảng tối. Ngày nay đồng tiền đang làm đảo điên thuần phong mỹ tuc. Tiếc rằng báo chí của ta còn né tránh những mảng gai góc này. Một bài thơ bênh vực một bé gái bán thân trong cảnh các 'đại gia' ăn chơi rửng mỡ mà khó đăng quá. Bài thơ của ĐKC : Hồn nhiên gửi lại quê nhà Em lên phố, áo xẻ tà rõ sâu Bóc đi cái vỏ áo nâu nõn là em mắc lưỡi câu làm mồi Nghìn vàng – cụ Nguyễn Du ơi đấu nào đông hết đấy vơi nỗi niềm Mỏng tang hai mặt đồng tiền làm em sấp ngửa, đảo điên tháng ngày Vui vờ khóc thật ai hay cánh diều quê đã đứt dây mất rồi Em như bùn nát chân đồi chỉ còn lại một nụ cười búp-bê Phút nông nổi, gái chân quê áo hai dây , buộc bốn bề bão giông Sa chân vào kiếp long đong Sao còn toan tính bẻ cong phố chiều ? Tôi cho rằng TMT nói đúng: "Đem chuẩn mực đạo đức, khoác áo chính trị như những bài giáo điều đã quá nhàm chán" Mong N.Đ.T thông cảm cho Thơ ... Lim dim tay lật bói Kiều Gẫm ra đâu đó đôi điều sêm sêm Lòng muốn tĩnh biển đợi êm Tiền Đường vẫn dữ bao phen triều cường Thế gian muôn chuyện khó lường Trở trăn trăm mối càng thương nhau nhiều Hậu duệ nếu chẳng tin yêu Nguyễn Du đâu gửi Truyện Kiều ngàn sau NHỚ CỤ NGUYỄN DU (Hoạ thơ Vũ Đình Mai) Trời cho ta được làm người Ai không mong muốn được đời thương yêu Bão dông cây đổ cành xiêu Khi nhà gặp nạn buộc Kiều bán thân Đã sa vào chốn tử sinh Mấy lần Kiều phải thay hình đổi tên Cứu người là Vãi Giác Duyên Hại người là Mã Giám Sinh, Tú Bà... Chuyện ngày xưa vẫn chưa xa Đời còn oan trái, lòng ta nhớ Người! Bài bình thơ của bạn Nguyễn Đức Trường thật tuyệt vời! Không chỉ là riêng bài thơ mà là gợi lại tất cả nhân gian thế thái đã xảy ra trong truyện Kiều! Ai chưa tỏ tường về truyện Kiều có thể nắm được tổng quan về những mảnh đời xung quanh nàng Kiều của Nguyễn Du. Những tứ thơ hay, ý đẹp thì đã bao người rung động làm nên nhiều kiệt tác rồi. Nhưng có khi đã lâu quá rồi, thế hệ sau dã quên mất, giờ ta lại phải làm lại, nhắc lại, bắt chước, ....lại cũng rất cần thiết mà! Vườn thơ đâu phải lúc nào cũng có thêm hoa thơm cỏ lạ! Quanh đi quẩn lại vẫn phải trồng đào, trồng quất, hoa hồng, hoa cúc...thôi mà! Thơ là nỗi lòng chí ít cũng chỉ là của tác giả muốn gửi gắm vào đấy tâm tư, cảm xúc rất riêng tư. Nếu mà đồng cảm được với đông đảo bạn đọc thì đạt tới tầm thời đại rồi! Tôi đồ rằng những tác giả "chơi" trong sân Lục bát này không có tham vọng trở thành những "người đương thời"! Cho nên thơ họ chỉ là khúc tâm tình riêng tư góp với đời, chia sẻ cùng bạn bè thôi. Đem chuẩn mực đạo đức, khoác áo chính trị như những bài giáo điều đã quá nhàm chán mà những người đủ năm tháng trải đời đã không ít ba bốn bận phải ngồi mà nghe, mà nghiền mà ngẫm....cho đến tận bây giờ vẫn còn thuộc làu làu thì thơ ai mà đạt được tiêu chí của một tác phẩm với: dân tộc, đại chúng, ... thôi thì: Tiếng lòng thơ rất riêng tư! Bình bài thơ của Vũ Đình Mai MỘT BỨC TRANH GAM TỐI Bài thơ Trước mộ cụ Nguyễn Du của Vũ Đình Mai là một bài thơ có tứ rất hay, nhưng không phải là mới. Hẳn chúng ta chưa quên được bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu và bài Qua mộ Nguyễn Du của Vương Trọng và bao nhiêu bài của các nhà thơ khác cảm tác trước mộ Người. Cái tứ xuyên suốt các bài thơ là mối đồng cảm của người xưa và người nay trước thân phận nàng Kiều. Từ lâu, truyện Kiều đã đi sâu vào tiềm thức của người dân Việt Thôi thì đủ câu chuyện, từ chuyện vu oan giáo hoạ của thằng bán tơ, đến chuyện đi đút lót của họ Chung với các quan tham nhũng, đến những kẻ buôn người như Mã Giám Sinh, chủ lầu xanh như Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà, ma cô như Sở Khanh, đến nhưng kẻ trăng hoa như Thúc Sinh, ghen cao thủ như Hoạn Thư, đến loại đâm thuê chém mướn như Ưng, Khuyển, đền những vị quan háu gái như Hồ Tôn Hiến , bao nhiêu là hạng người, từ quyền quý cao sang đến cặn bã của xã hội. Những người này là mảng tối của bức tranh. Nhưng cũng có kẻ chung tình chàng thư sinh như Kim Trọng, cô gái hiền lành như nàng Vân, thương người như họ Chung, lòng từ bi như vãi Giác Duyên, anh hùng cái thế như Từ Hải, đến hai ông bà họ Vương là người dân thường nhưng cũng dám vượt vòng lễ giáo, chấp thuận cho con trẻ yêu nhau.... Và Nàng Kiều, tuy mười lăm năm lưu lạc, trải qua bao nhiêu bạc bẽo, ruồng rẫy của cuộc đời, nhưng tấm thân dù có bị vùi dập, đoạ đày nhưng tâm hồn vẫn trung trinh chữ tình và chữ hiếu, vẫn trong như nứoc mùa thu, cho dù nghiệp đời phải “khi khoé hạnh, khi nét ngài, khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa” thì tâm hồn nàng vẫn nhớ về người tình chung và sân Lai gốc Tử... đây là mảng sáng của Truyện Kiều. Vũ Đình Mai, trước mộ cụ Nguyễn Du chỉ nhớ về và vẽ lên cái mảng tối của bức tranh ấy. Và đặc biệt là tác giả đã so sánh , hay cảm nhận cái mảng tối của ngày xưa rồi so sánh với thực tế hiện nay. Theo tác giả thì hiện nay, tình cảnh , bức tranh chẳng sáng thêm chút nào. Ta hãy nghe câu thơ: Song đào vắt mảnh trăng xiêu Một bức tranh vẽ lại nguyên xi bức tranh tăm tối ngày xưa. Con cháu Kiều vẫn phải bán thân, lũ buôn người vẫn bảnh bao như Mã Giám Sinh, vẫn quan háu gái như Hồ Tôn Hiến, vẫn Tú Bà ‘ nhác trông lờn lợt màu da”, còn một chút gam màu sáng là lòng từ bi của vãi Giác Duyên thì lại không tìm thấy. Bài thơ cho ta thấy tác giả rất bi quan về xã hội hiện nay. Trong cái nhìn chỉ thấy những cô gái bán thân, những tú bà, buôn người và quan háu gái, còn không thấy lại được mảng sáng của bứac tranh màn ngày xưa Nguyên Du đã vẽ. Chỉ dám nói rằng, tác giả nhìn thiên lệch, thấy quá nhiều tiêu cực trong xã hội hiện nay, không thấy cái tốt đẹp của chế độ mới. mà không dám nói rằng tác giả đã nhìn xã hội hiện nay vơí một nhãn quan tăm tối. Tại sao tác giả lại không thấy những vãi Giác Duyên của thời đại hiện nay. Trên báo chí, TV, tiết mục người đương thời, ta thấy bao nhiêu là người có tấm lòng bác ái. Tôi chỉ xin đơn cử như cô gải Huỳnh Tiểu Hương mà tôi hằng tôn trọng. Em là người mồ côi cha mẹ từ nhỏ, mới bé tí xíu đã bị ra ngoài đường đời. Xin hãy nghe cô tâm sự trong nhiều trang blog ở http://vn.myblog.yahoo.com của em, em toàn xưng là con thôi, đọc mà chảy cả nước mắt. Tôi thấy em còn hơn vãi Giác Duyên gấp vạn lần. Cuộc đời và việc làm của Huỳnh Tiểu Hương như một huyền thoai. Từ một trẻ bụi đời em trở thành tỷ phú và trở thành người mẹ của hàng trăm đúa con. Tấm lòng bao dung, nhân ái và nghị lực của em được nhiều người biết đến, để lại trong lòng người những ấn tượng khó quên như hương thơm tỏa ngát bốn phương. Tuổi thơ của em là một chuỗi ngày cơ cực, khó nhọc, em không cha mẹ, không nhà cửa, không họ hàng thân thích, thậm chí nơi chôn nhau, cắt rốn em không biết ở đâu. Em chỉ biết mình là trẻ bụi đời, lang thang đầu đường, xó chợ, làm đủ thứ nghề như ăn xin, rửa chén, bán phụ cà phê…Lúc nhỏ em đã bị xân hại tình dục. Cả một thời con gái em đã rơi vào tận cùng đáy của xã hội, em đã từng làm gái bán thân như cô Kiều, cũng phải nay khách này, mai khác khác đoạ đày tầm thân thơ dại, em luôn sống trong cảnh lo âu, chống đỡ với cạm bẫy và lừa gạt, em sợ hãi muốn chốn chạy. Không thể quên những trận đòn roi, những nhục hình mà kẻ xấu luôn rắp tâm hại cuộc đời em. Nhưng em hơn hẳn nàng Kiều là em biết đứng dậy. Khi gặp một chằng Từ Hải cứu ra khổi động, cảm thương em mà cho chút tiền. Không như những kẻ thiêu thân khác, họ dùng tiền ấy để ăn chơi nhảy múa, còn em, em đi mua nhà, và số phận đã rón tay làm phúc cho em gặp may mắn, em khá lên nhờ buôn bán bất động sản, lâph nhà máy nước tinh khiết đóng chai cả ở Việt Nam và ở Mỹ, tạo công ăn việc làm cho bao kẻ khốn cùng. Em đã thành đạt , nhưng em đã trải qua một đoạn đời đầy đau khổ, chính vì vậy em rất đồng cảm với những số phận kém may mắn, những trẻ mồ côi, khuyết tật, các em nhiễm chất độc dioxin… Em đã thành lập Trung tâm nhân đạo Quê Hương để được nuôi dạy 300 trẻ ( trong đó với 75% là khuyết tật, 87 trẻ sơ sinh bị cha mẹ bỏ rơi cùng các trẻ khuyết tật thần kinh, câm điếc, khiếm thính v.v…) Số phận thật nghiệt ngã với em, Huỳnh Tiểu Hương lâm bệnh nặng ( bệnh nan y), cơn bệnh hiểm nghèo đã hành hạ thể xác em, lúc nào mọi người cũng nghe tiếng các bé đang nhõng nhẽo và tiếng em đang ngọt ngào dỗ con. Em vẫn gượng dậy để lo cho sự phát triển của Trung tâm, lo cho các con và làm mọi việc có thể làm được để góp một phần công sức của mình làm giảm đi những số phận kém may mắn trong xã hội. Huỳnh Tiểu Hương, người phụ nữ thánh thiện, là cô gái có trái tim bao la, có tấm lòng nhân ái , vươn lên bằng chính nghị lực của mình, trọn cuộc đời giành tình thương yêu cho những người kém may mắn . Và bao nhiêu người khác nữa, nhiều người tốt đẹp trong xã hội, những người hào hiệp như Hiệp sĩ Đường phố, anh Lê Phước Tươi dũng cảm bắn gã tài xế công ten nơ vô nhân tính đã chèn xe lên em gái 16 tuổi tên là Hội với dã tâm giết chết em. Trước mộ Nguyễn Du, tác giả chỉ nhìn thấy các tiêu cực trong cuộc sống hiện nay mà chưa nhìn thấy cái tốt đẹp của nó. Một xã hội đầy tính nhân văn. Năm qua, bão lụt trên diện rộng ở miền Trung, bao nhiêu người xã thân cứu người bị nạ đã hy sinh, bao nhiêu người nhường cơm sẻ áo cho nhau liúc hoạn nạn khó khăn Vương Trọng đã có một cái nhìn khác. Ông thương cho đại thi hào mà mộ người như mộ đạm Tiên: Tưởng là phận bạc Đạm tiên Và cuối cùng ông đã hứa : Bao giờ cây súng rời vai Mỗi người có nhãn quan khác nhau, không ai bắt buộc ai, nhưng người đọc được quyền cảm nhận. Một hơi lửa từ người viết phải truyền sang người đọc, đó là trách nhiệm của thi nhân. Ở bài thơ này, tác giả đã hình tượng hoá, các cô gái lầu xanh hiên nay là con cháu Thuý Kiều, để nói lên cái nghề bán trôn nuôi miệng nó cũng có dòng có giống, cha truyền con nối, gia truyền.. Ai cũng biết rằng Kiều làm gì có con. Trải qua “mười lăm lăm bấy nhiêu lần, làm gương cho khách hồng trần thử coi”: và ”thanh y mấy lượt thanh lâu mấy lần” thì sao mà có con. Khi tái hồi với Kim Trọng, nàng lại: mang tình cầm sắt đổi ra cầm cờ” và sống với Kim Trọng theo nghĩa bạn đến cuối đời nên không có có con. Nói thật, tác giả có hình tượng thơ và tứ thơ hay, hình ảnh ví von so sánh xưa và nay đã đánh trúng vào tâm lý của nhiều người đang nhìn đời với nhãn quan màu xám, nên người ta sẽ tâm đắc mà khen. Theo ý kiến cá nhân tôi chuyện này nên nhìn nhận lại, chứ xã hội ta là xã hội tốt đẹp, còn cái hình ảnh tiêu cực tác giả nêu là có thật, nhưng nó chỉ ở đâu đó, có ít thôi, nhưng báo chí của ta hiện nay đưa tin nhiều quá nên ta mới tưởng là nhiều. Đứng trước mộ cụ Nguyễn Du mà báo cáo thưa trình với Cụ như vậy, chắc là Cụ rất buồn, vì tấm lòng Cụ rộng bao la, thương tất cả thập loại chúng sinh, thương thân nàng Kiều , thương những số phận éo le và đau khổ trong xã hội. Thưa với Cụ, đọc bài thơ này chúng cháu cũng rất buồn, vì sao Đảng, Bác Hồ lãnh đạo dân tộc ta giành độc lập tự do, xây dựng xã hôi công bằng dân chủ và văn minh, thế mà sao xã hội lại còn nhiều những Hồ Tôn Hiến đổi tên, với Tú bà, Mã Giám sinh và nàng Kiều đến vậy. Có điều gì không phải, xin lỗi tác giả và bạn đọc. NGUYỄN DU Người thương thân phận con người Nhà thơ VĐM ơi ! Bác Mai ạ! Thơ bác hay quá rồi. Có người không dám bình! Mà chắc là cũng chẳng mấy người dám hoạ nữa! Nếu vậy cũng buồn! Vì thế em xin phép Bác chỉ hoạ theo vần bài thơ của Bác về 1 người trong Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du thôi đó là Kiều. Nếu mà chẳng ra làm sao thì xin Bác đại xá cho nhé. Bây giờ hoạ thơ của ai cũng...run lắm mà! KIỀU (Hoạ bài Trước mộ Nguyễn Du) Trăm năm trải mấy đời người, Chữ tình chữ hiếu, tan đời nát yêu. Hồng nhan bạc mệnh liêu xiêu, Truyện Kiều tuyệt tác mà Kiều tàn thân. Nhục lòng đã quyết quyên sinh, Bằng không cũng thể đổi hình thay tên. Bọt đời, bạc nghĩa phụ duyên, Tháng năm lưu lạc, từng lên Vua Bà! Đoạ đầy mấy bận xót xa, Tiền Đường tuẫn tiết, gột hoa hồn người. Trần Mạnh Tuân Bài này Mai mới gửi đêm qua. Trưa nay mở máy, đã thấy được hiển thị. Cám ơn BBT và cám ơn bạn Vĩnh Xuân. Mặc dù bạn làm Mai hơi ngượng nhưng vẫn khoái. Xin có vài lời tâm sự trước khi nghe thêm ý kiến của bè bạn gần xa: Nguyên bài này có tên là Khấn Nguyễn Du, với hai câu kết là: Dặm nghìn nước thẳm non xa Nghĩ đâu con cháu lại ra thế này. (như một lời tâm sự với Cụ, đồng thời cũng gần với văn bản Kiều hơn) Nhưng khi gửi, sợ gây khó cho BBT nên Mai đã đổi câu kết như hiện nay. Thế là phải thay cả tên bài. Mong các bạn chiếu cố đọc chơi. Mai Bác mai ơi, bác nói chuyện triết học hay lắm, bác làm thơ còn hay hơn. Bác là bậc Sư phụ. Em không đủ trình độ để bình bài thơ này của bác. Em muốn "ngồi dựa cột" nghe bác bình và làm thơ. "Hồ Tôn Hiến đã thay hình đổi tên". Lâu nay em chỉ ngờ ngợ thôi. Cảm ơn bác rất nhiều. |