Thứ bảy, 03/12/2022,


Nói với con chồng là một bài thơ có những diễn biến tâm lý vừa nhiều chiều vừa là những khúc quanh tâm trạng rất khó nắm bắt. Chỉ với lối độc thoại giãi bày của "dì" , bằng thể thơ lục bát thẫm đẫm hồn vía ca dao, rồi xử dụng ca dao phản ca dao, mang lại thành công không ngờ với một đề tài tưởng dễ mà khó...

Câu hò bổng, nỗi đau chìm
Trăng sao cũng rụng rủ tìm bến mơ
Tìm duyên em chở thuyền thơ
Thả chi giọt mắt dật dờ thuyền nghiêng?

Chỉ có bốn câu thơ thôi mà ta cảm nhận được cả không gian và thời gian của tiếng con gọi mẹ. Không gian là cách xa vời vợi. Thời gian là trong đêm tối. Ôi! Trong đêm mới càng thêm xót xa, tê tái ở cảnh tình mẹ phải xa con, con phải xa mẹ

Trao duyên  (08/06/2012)

"Truyện Kiều" là tuyệt tác văn học của đại thi hào Nguyễn Du và của văn học Việt Nam. Tác phẩm có thể coi là một bi kịch lớn, chứa đựng những bi kịch nhỏ. Quyết định bán mình chuộc cha của Kiều cũng là một bi kịch. Vì vậy, Kiều đã nhờ cậy Thúy Vân thay mình để trả nghĩa cho chàng Kim. Giây phút trao duyên của Kiều gây cho chúng ta sự xúc động và ấn tượng mạnh.

Cảm xúc thường nằm ở phía sau cái nhìn thấy được, cái nghe thấy được. Thơ Lục Bát bảo ta hãy dành cho nhau, hãy ở lại dòng sông này, dòng sông Lục Bát nở trắng phây phây mà tận hưởng nó và làm cho nó tình tứ hơn, duyên dáng hơn và mẫn cảm hơn.

Bài thơ mang âm hưởng thật buồn. Nhưng ánh ngời tấm lòng thủy chung trong nghĩa phu thê, tình mẫu tử lai láng của người thiếu phụ trước nỗi đau không thể khỏa lấp.

Một vẻ ngoài rất « viên chức » ấy, thế nhưng trong góc lòng lại quặn đấy những dư ba « trăm năm vênh vẹo gánh sầu đa đoan » (Chị tôi) cho những phận người. Đó là nhân văn vậy.

“ Người gì người trắng như trăng/ trăng gì trăng nói lăng nhăng như người/ Trăng đau trăng bạc như vôi/ người đau người khuyết người vơi người mờ”
 

Người nông dân gắn bó với con trâu, cái điếu cày từ muôn thuở. Ngày nay đã được cơ giới hóa nên hình ảnh: "Con trâu đi trước cái cày theo sau" cũng còn rất ít ở đồng bằng Bắc Bộ. NT Quỳnh Trâm đã tìm được cái hình tượng người nông dân hút thuốc lào tinh nghịch thi nhau nhả khói theo hình chữ O mà lại còn: "thả hồn làm thơ". Cũng như NT Lê Vân viết: "Ế thơ! Thi sĩ đi cày/ Kiếm dăm yến thóc "mẹ mày" liếc yêu". Sự vô tư yêu đời, yêu ruộng của người nông dân từ ngàn xưa thật đáng quý, đáng kính, thơ mộng biết bao.

“Đọi Tam” là một làng quê nhỏ bé nổi tiếng về nghề làm trống bằng da trâu. Trống Đọi Tam đi khắp nơi trong cả nước. Nghe nói đại lễ hội kỉ niệm ngàn năm Thăng Long cũng dùng trống của làng Đọi Tam. Bài thơ không có chữ nào viết về Đọi Tam nhưng tác giả lại lấy đầu bài là: “Nói ở Đọi Tam” là muốn dẫn người đọc về cái làng nghề truyền thống đó, nơi sinh ra những cái trống làm bằng da trâu. Anh đã có lí khi lấy Đọi Tam làm cái tít cho bài thơ, làm cho bài thơ càng sâu sắc hơn, hiệu quả hơn.

Không rõ ở đâu, tự bao giờ Thơ Lục Bát ra đời và trở thành âm hưởng chủ đạo của thi ca dân tộc. Dù hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về gốc gác của thơ lục bát* , nhưng có thể thống nhất rằng lục bát tồn tại và có sức sống lâu bền nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam. Nó từng được mệnh danh là “quốc phong”, “quốc túy” của thi pháp thơ Việt.

Lời thơ trẻ trung, trong sáng mà điêu luyện của nghệ thuật kết cấu chặt chẽ với chủ đề của bài thơ Ý hay Tứ lạ, lý lẽ sắc sảo khiến bạn đọc phải nhâm nhi như thưởng thức ly "cà phê góc phố" mới thấy hết vị đắng tê và ngọt dư có hậu của ngôn từ thơ. Chúc Trương Nam Chi sẽ bội thu với bài thơ Lục Bát “ ANH ƯỚC...”

Trước tiên Trước Trang [13 ,14 ,15 ,16 ,17 ,18 ,19, 20 ,21 ,22 ,23 ,24 ] Tiếp  Cuối cùng